Chuyện xưa tích củ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

Chuyện xưa tích củ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ÔNG KHỔNG LỒ ĐÚC CHUÔNG



Nghề đúc chuông bắt đầu có ở Việt Nam vào khoảng năm 1220 đời nhà Lý.

Lúc ấy, Ngọc Hoàng ra lệnh cho ông Khổng Lồ xuống giúp dân Việt. Ban đầu, ông Khổng Lồ vào chùa tu.

Một hôm, ông tâu với vua nhà Lý rằng:

- Xin bệ hạ cho phép bần tăng qua bên Tầu, lấy ngọc ngà châu báu.

Vua nhà Lý bằng lòng. Ông khổng Lồ bèn mang bị, mang gậy đi qua nước Tàu, đến đâu ăn xin đến đó. Ngày nọ đi tới kinh đô, ông nài nỉ vào bái yết vua Tàu.

Vua Tàu hỏi:

- Hòa Thượng vào đây có việc chi?

Ông Khổng Lồ đáp:

- Tâu bệ hạ, bần tăng xin phép được vào kho tàng để thỉnh chút ít đồng đen đem về đúc chuông thờ Phật. Bần tăng không lấy nhiều, chỉ xin đầy bị nhỏ này.

Thấy cái bị của ông Khổng Lồ không lớn mấy, vua bằng lòng cho phép ông vào kho.

Trước cửa kho, có tượng một con trâu to lớn đúc bằng vàng ròng. Quan Tàu giữ kho nói với ông Khổng Lồ, giọng mỉa mai:

- Tôi cho Hòa thượng con trâu vàng này, nếu Hòa thượng vác nổi đem về An Nam.

Biết rằng quan giữ kho khinh khi mình, ông Khổng Lồ đáp:

- Bần đạo làm sao vác nổi nó. Là người tu hành, bần đạo chỉ muốn thỉnh chút ít đồng đen đem về đúc chuông.

Vào tới kho đồng đen, ông Khổng Lồ hốt đồng bỏ vào bị. Bỏ vào rất nhiều mà không thấy đầy vì bị của ông có phép. Chừng đầy bị thì kho của vua Tàu đã lưng hơn phân nửa. Quan giữ kho hoảng sợ biết ông Khổng Lồ là kẻ dị thường, bèn cấp báo cho vua hay. Lập tức, vua Tàu sai quân sĩ tới vây. Vì số đồng đen mang nhiều quá, ông Khổng Lồ không thể nào hóa phép thành con chim để bay được. Ông phải chạy rất nặng nhọc, vất vả. Quân Tàu đuổi theo gần kịp, nhờ họ cưỡi ngựa. Nguy hiểm làm sao, ông Khổng Lồ chạy tới sông Hồng Hà. Lập tức, ông lấy cái nón thả xuống nước, đứng trên nón. Nón ấy hóa ra chiếc thuyền chở ông và bị đồng đen đến bên kia sông. Quân Tàu hoảng sợ, không dám đuổi theo.

Thành Hà Nội thuở ấy gọi là Bắc Thành. Về tới đó, ông Khổng Lồ nhờ mấy người thợ rèn thụt ống bể lên để rèn một cái chuông thật lớn. Ông căn dặn: rèn thế nào cho chuông này giống hình cái bông sen nở, khi đánh vào thì kêu rền lên khắp nơi, khắp chốn ai cũng nghe.

Vì họ là thợ rèn không chuyên môn đúc đồng nên cái chuông không được như ý muốn. Rốt cuộc ông Khổng Lồ dùng đất sét nắn kiểu khuôn trước, rồi đổ đồng vào sau. Nhờ vậy, cái chuông hoàn thành.

Ông Khổng Lồ bèn sửa sang cuộc lễ tạ ơn Phật Trời. Đúng ngày ông đánh chuông. Mấy tiếng đầu vang rền ngân nga Đông, Tây, Nam, Bắc ai nấy đều hay biết... Đến đỗi con trâu bằng vàng đứng giữ kho bên Tàu cũng giật mình. Ngỡ rằng trâu mẹ gọi mình, tượng trâu vàng nọ chạy một mạch từ kinh đô nước Tàu qua tới kinh đô nước Việt Nam thời ấy.

Ông Khổng Lồ vừa mừng, vừa sợ hãi. Mừng vì thấy của cải mà người Tàu vơ vét của dân Việt Nam bấy giờ trở về Việt Nam. Sợ vì e vua Tàu cử đại binh qua xâm chiếm nước nhà phen nữa. Bởi vậy, ông liệng cái chuông nọ xuống Hồ Tây. Con trâu vàng nọ cũng nhảy xuống nước theo mẹ.

Đời sau, ông Khổng Lồ được tôn thờ là Thần đúc chuông.




CÂY MẮC CỠ




Ngày xưa, có một cô gái rất đẹp. Xóm làng ai cũng trầm trồ khen ngợi. Cô nàng tên là Trinh, hình vóc mảnh mai, tướng đi yêu điệu. Đặc biệt cô có đôi mắt đen huyền che khuất sau đôi hàng lông nheo vừa dài, vừa sậm.

Hàng ngày cô Trinh phải buôn tảo bán tần, gánh rau ra chợ bán để nuôi mẹ già, em dại. Hễ gặp cậu trai nào dòm ngó, cô luôn luôn e thẹn cúi đầu. Hai hàng lông nheo sụp xuống che khuất đôi mắt.

Đã có sắc đẹp lại có hạnh kiểm tốt ai mà không yêu!

Trong xóm có cậu công tử nọ tên Xinh. Cậu Xinh đem lòng yêu mến cô Trinh, mỗi ngày đón đường để mong thốt với cô vài lời tâm sự. Cô Trinh từ chối:

- Trăm sự, phải nhờ sự ưng thuận của mẹ tôi ở nhà.

Nhuốm bệnh tương tư, một hôm cậu Xinh đi tò tò sau lưng cô mà trộm ngắm. Thừa lúc vô ý, cậu chạy lại nắm tay cô. Cô nói:

- Cậu đừng làm vậy mà thất giáo. Tôi đây thà chết chớ không bao giờ để hoen ố...

Bệnh tương tư của cậu Xinh ngày càng thêm trầm trọng. Ông bá hộ, cha của cậu, biết rằng con trai mình lớn tuổi, cần phải cưới vợ. Ông tìm nơi môn đăng hộ đối để định gia thất cho con.

Cậu Xinh không giải được cơn sầu. Phải chi cô Trinh là con nhà giàu có thì cậu cưới được. Ngặt cô rất nghèo khó. Sống với người vợ không vừa ý, cậu vô cùng phẫn chí, đi tới đi lui như xác không hồn.

Sau đó cậu đi học phương xa.

Thời gian thấm thoát không biết mấy thu qua xuân lại rồi mà hình ảnh cô Trinh vẫn còn ghi trong tâm não của cậu. Một hôm trở về làng cũ, cậu Xinh đi thẩn thờ ra sau vườn mé sông.

Bỗng nhiên, từ trong bụi rậm, cô Trinh bước ra. Cậu đứng nhìn, kìa cô Trinh cất tiếng hát, giọng trong trẻo, mê ly lạ thường. Chợt thấy câu, cô Trinh run rẩy, day mặt lại toan chạy trốn. Cậu Xinh vội nắm tay cô rồi ôm vóc ngọc vào lòng. Rõ ràng là đôi mắt đen huyền ngày xưa khuất sau hai hàng lông nheo dài sậm. Cậu cúi mặt xuống để hôn. Nhưng hỡi ôi nàng tắt thở. Cậu giật mình, mới biết nãy giờ mình đang cúi xuống đất mà hôn một đóa hoa màu hường, xung quanh đầy lá nhỏ mịn, thứ lá xếp lại khi có hơi gió, hoặc hơi thở nào động tới.

Hỏi ra thì cô Trinh đã tự tử từ hai năm nay, vì có kẻ tham quan ô lại dùng quyền lực toan cưỡng bức cô. Cho hay! Chữ Trinh đáng giá biết mấy. Dẫu chết xuống âm cảnh, người thiếu nữ vẫn giữ được sự trong sạch của tâm hồn mình.
Sửa lần cuối bởi tducchau vào ngày 17 Tháng 4 2010 với 1 lần sửa.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

NGƯỜI CHỒNG BẤT NGHĨA




Đời nhà Đường, người Tàu đến ở thành Đại La (Hà Nội) rất đông.

Quan Tàu thấy một thiếu nữ Việt Nam tên Liên Anh có nhan sắc nết na bèn cưới cho con trai của mình.

Về nhà sống chung với cậu công tử nọ, Liên Anh tỏ ra đảm đương, hiền hậu. Đôi vợ chồng trẻ năm sau có đứa con trai đầu lòng.


Hai năm qua, đời sống gia đình họ rất hạnh phúc.


Nhưng bỗng đâu có người bạn học cũ tới thăm. Anh chồng bèn thết tiệc linh đình cùng với vài vị quan Tàu khác. Buổi tiệc sắp đặt tại vườn hoa.

Họ uống rượu rất nhiều. Chừng ai nấy ngà ngà say, người bạn nọ có ý nghĩ trớ trêu:

- Bần cùng mới biết hiếu tử. Nước loạn mới rõ tôi trung. Có gặp sự cám dỗ, ve vãn của bạn bè, mình mới biết vợ mình có thiệt lòng yêu mình không?

Anh chàng nọ gật đầu:

- Phải! Phải lắm. Như vợ tôi đây thương tôi lắm. Ngặt chưa bạn bè nào tới cám dỗ để tôi dò xét thử...

Người bạn rót rượu thêm:

- Vậy thì ông nên cho phép anh em ở đây tới cám dỗ thử. Nếu không xong thì rõ ràng là người đàn bà tốt.

Anh chồng nọ say rượu không kịp nghĩ suy bèn cho phép bạn bè tới ve vãn vợ mình.

Nàng Liên Anh đang ngồi trong phòng the ru con ngủ. Bỗng nhiên một vị quan trai trẻ đến, buông lời đường mật.

Nàng từ khước đuổi ra.


Lại một vị khác bước vào, buông ra bao nhiêu là giọng kèn tiếng uyển. Nàng Liên Anh không đồng ý. Lại có vị quan thứ ba, thứ tư bước vào.

Sau cùng nàng Liên Anh nhìn đứa con trai mà khóc:

- Hồi nào đến giờ, mẹ là người nết na đoan trang. Nay bỗng dưng nhiều người tới đây toan làm điều bất nhã. Chắc mẹ có sơ sót điều gì về hạnh kiểm nên thiên hạ mới suồng sã như vậy. Hay là họ khinh khi người đàn bà Việt Nam không biết giữ lòng chung thủy?

Nàng thắt cổ tự tử.

Sau đó quan trên điều tra chuyện này, ra lệnh xử tử người chồng nàng Liên Anh. Chính hắn mới là chánh phạm trong vụ giết người vợ hiền.





CON TRÂU BAY



Có anh nông phu nọ mua được một con trâu tơ mười hai đồng bạc, đem về cày ruộng. Trâu mạnh khỏe, dai sức lắm.


Đêm ngủ, anh ta nằm chiêm bao thấy trâu nọ mọc hai cái cánh bên hông, bay bổng đi mất. Lúc thức dậy anh ta nghĩ rằng: "Đó là điềm bất lành. Mình phải bán con trâu này. Không thì nó cũng mất".


Hôm sau anh dắt trâu ra chợ, bán được sáu đồng bạc. Bèn lấy dây thắt lưng buộc số tiền ấy lại.


Đến nửa đường, anh thấy một con chim lớn đang đứng mổ vào xác con chuột chết. Lại gần thử xem, thì chim nọ dạn dĩ, không bay. Anh vồ con chim nọ, dùng dây thắt lưng buộc vào chân chim.


Đi được một lát, chim nọ vùng vẫy, mổ vào tay đau điếng. Vô ý anh buông con chim ra. Chim bay bổng, mang theo cái thắt lưng buộc bạc.


Về tới nhà, vợ hỏi:

- Con trâu đâu?

Anh thở dài:

- Nó bay mất rồi!...
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ÔNG ĐỊA LÀNG BÌNH SÙNG




Làng Bình Sùng có gốc cây đa to. Kế bên là miễu thờ ông Địa. Dân làng đồn rằng, ông Địa này linh lắm, nên họ hằng tới lui cúng kiến, khấn vái. Họ phải lãng phí rất nhiều tiền bạc để mua gà vịt, nhang đèn.

Có một anh nọ không tin như vậy, thề không bao giờ cúng vái ông Địa. Lắm khi đi ngang qua miễu, anh nói giả ngộ: "Ông Địa ơi! Có rảnh chiều nay lại nhà uống rượu với tôi chơi". Ai rầy la cũng mặc, anh không bỏ thói đó.

Hôm nọ bỗng dưng anh ngã lăn ra ôm bụng mà rên la dữ dội. Vợ chạy thuốc đủ điều mà bệnh không thuyên giảm. Sau rốt có người bàn nói:

- Chắc là chồng bị ông Địa quở, chị lén ra miễu van vái, xin tha tội thử coi!

Y như lời, vợ anh đem nhang đèn ra miễu lạy. Về tới nhà, anh nọ hết đau.

Bữa sau, chị vợ khuyên chồng làm thịt heo trả lễ ông Địa. Anh đổ quạu:

- Ai biểu mình vái. Ông Địa cứu tôi, đó là bổn phận của ổng. Ơn nghĩa gì.

Hôm sau, anh nọ phát đau dữ dội lần nữa.

Xóm giềng bàn tán:

- Chắc ông Địa quở rồi! Hôm trước có hứa, sao không chịu cúng heo cho ổng.

Chị vợ ra miễu khấn vái. Chập sau, anh cũng hết đau. Vì vậy, hôm sau chị cương quyết làm thịt heo cúng. Nghe vậy, anh cãi lại:

- Để tôi lo cho. Mình phải giao con heo sống nhăn này cho ổng. Nấu nướng trước, sợ ổng ăn không vừa miệng.

Rồi anh cột dây, dắt con heo ra miễu, cột chặt con heo vào cốt ông Địa.

Tới trưa, heo đói bụng bèn lôi cốt ông Địa về nhà. Xóm giềng hoảng sợ. Song anh nọ tỉnh táo đem cốt nọ tắm sạch sẽ rồi ôm ra miếu trả lại chỗ cũ.

Thấy anh nọ quá ngạo mạn dễ ngươi, ông Địa quyết răn dạy anh một phen đích đáng hơn mấy lần trước, nên đến bà Cửu Thiên Huyền Nữ mượn cái kim cô đem về. Báu vật này giống như cái niền, hễ trồng cái kim cô vào đầu ai thì kẻ đó phải đau đớn không tả; cái niền siết vào đầu ngày một chặt, đến bể sọ.


Hôm sau anh nọ bỗng nhiên la lên nhức đầu nhào lộn xuống đất. Không ai biết cách nào cứu trị. Có người khuyên nên vái ông địa. Chị vợ khóc lóc:

- Vái rồi chừng lành không chịu tạ ơn. Ai dám vái nữa.

Kẻ khác bèn nói:

- Chắc chồng chị tiếc con heo, vậy thì vái gà vịt thế vào đó cũng được.

Đầu anh nọ càng nhức thêm. Túng thế anh vái:

- Ông Địa cho tôi hết nhức đầu, tôi cúng cho ông...

Tới đó, anh suy nghĩ không biết nên hứa cúng vật gì cho gọn. Thấy anh quá bỏn xẻn, ông Địa bèn niệm thần chú cho cái kim cô nọ siết gắt hơn. Vì quá đau, anh nổi giận hét lớn:

- Mình đưa cái búa lớn cho tôi. Để tôi bửa óc tôi ra coi cái gì ở trỏng mà nhức nhối hành hạ quá vậy?

Biết anh nọ gan dạ, ông Địa sợ anh bửa thiệt. Nếu vậy, cái kim cô của bà Cửu Thiên Huyền Nữ phải đứt, uổng bửu bối nọ quá, phải bồi thường. Ông bèn thâu cái kim cô về miễu.

Từ đó, anh nọ không còn đau bụng nhức đầu gì nữa. Xóm giềng cũng bớt tin dị đoan cúng vái lặt vặt, hao tài tốn của vô lý như trước.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

NGƯỜI VỢ BÉ TÀI ĐỨC



Ở tỉnh Thanh Hóa, có ông nhà giàu nọ cưới người vợ bé rất trẻ, rất đẹp. Bà vợ lớn thấy vậy sanh ra ghen tương, nay đánh, mai chửi, sai làm công việc nặng nhọc. Người vợ bé cam chịu không hé môi phiền trách. Đêm nọ, ăn cướp tới dộng cửa. Người chồng và người vợ lớn sợ hết hồn hết vía, kéo nhau vào một xó, nín hơi không dám cục cựa. Cô vợ bé bèn cầm roi, mở cửa ra đánh bọn cướp chạy tơi bời.

Tan cuộc, người vợ lớn mới hỏi:

- Dì có tài phép gì mà đánh tan tụi nó lẹ vậy.

Người vợ bé nói:

- Cha tôi là thầy nghề võ. Khi còn bé, cha tôi có dạy tôi chút ít nghề, cho nên hôm nay tôi mới trừ được chúng nó.

Từ đó, trong làng ai cũng khen vô vợ bé là giỏi. Có người hỏi thử: "Cô có nghề võ giỏi như vậy, tại sao khi bà vợ lớn đánh, cô không đánh lại?". Cô vợ bé trả lời: "Tôi là kẻ bề dưới, có khi nào dám đánh kẻ bề trên".

Câu trả lời ấy lần lần thấu tai bà vợ lớn. Bà này suy nghĩ lại, mới đem lòng thương yêu người vợ lẽ, không dám đánh chửi hành hạ như trước nữa.



SĂN CHUỘT



Chuột là giống vật gây bao nhiêu thảm hại cho nhà nông.

Ở ngoài đồng, khi lúa chín thì chuột tung ra cắn phá. Để trừ nó, nhiều người làm bẫy đánh thuốc độc hoặc chận các ngách rồi quạt khói vô hang. Ngoài cửa hang chánh, người ta đặt cái rọ. Bao nhiêu chuột bị ngột phải chun vô rọ đó.

Ở làng Cổ Quán, huyện Thần Khê, tỉnh Thái Bình, có một thôn nọ hằng năm tổ chức cuộc bắt chuột. Cứ đến ngày mùng 9 tháng 9, trai trẻ trong làng đều ra đồng săn chuột. Các ông lão ngồi ở đình làng mà thâu đuôi. Ai bắt được nhiều đuôi chuột đem về trình cho các cụ để lãnh thưởng. Giải thưởng nhất là một quan, hai tiền.

Đó cũng là một tục lệ hay của dân tộc mình.
Sửa lần cuối bởi tducchau vào ngày 17 Tháng 4 2010 với 1 lần sửa.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

NÚI THỊ VÃI



Núi này thuộc về huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa.

Tích xưa, họ Lê có người con gái rất kén chồng. Đến khi cha mẹ mất cô mới lấy chồng, nhưng không được bao lâu chồng mang bệnh mà chết. Cô nọ thề không lấy chồng nữa, ngặt lối xóm có nhiều kẻ tới lui trêu ghẹo vì cô là người có nhan sắc.

Buồn bực quá, cô cạo đầu trốn lên đỉnh núi này mà cất am để tu thân học đạo.

Vì vậy, dân chúng cảm mến cô, đặt núi này là núi Bà Vãi, sau này kêu là Thị Vãi.



VÌ CON GÀ MÀ GIẾT MẸ



Ngôn ngữ ta có câu "Phường chó săn, gà chọi". Đó là ám chỉ mấy người lêu lổng không lo chí thú làm ăn, tối ngày mê say việc đá gà, nuôi chó săn.

Đời vua Gia Long năm thứ mười tám, ở làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có một gã trẻ tuổi tên là Đinh Văn Hào. Tên này nuôi được một con gà rất hay, đá độ nào ăn độ đó.

Nói nói: "Hễ ai đụng tới mạng con gà của nó thì phải chịu chết thế mạng".

Một hôm nó đi vắng, con gà nòi ra sân ăn lúa. Vợ nó chụp cây sào vụt ra trúng con gà. Chẳng may con gà nọ giãy chết. Người vợ hoảng sợ chạy vô cầu cứu với mẹ chồng. Bà mẹ này quá thương con dâu nên nói: "Không sao đâu con. Chừng nó về, mẹ nhận là mẹ lỡ giết con gà nòi đó".

Hôm sau, tên Hào trở về. Bà mẹ ruột chạy ra khóc lóc: "Hồi hôm qua, mẹ lỡ vụt cây sào trúng con gà nọ, con tha tội cho mẹ". Dứt lời, tên Hào chạy vào buồng lấy cây dao bầu ra chém mẹ đứt cổ. Làng xóm thấy vậy xúm lại trói tên Hào, giải lên quan trên xử tử.

Năm đó nhà vua ra lệnh cấm đá gà vì đề phòng việc ấy hại tới luân thường đạo lý.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

NGƯỜI CHẾT TRẢ NỢ CŨ




Xóm nọ, có ông Lý Trước Minh tánh tình rộng rãi, hay thương xót kẻ bần hàn. Có tên nọ nghèo đói quá, không biết nghề nghiệp gì cho rành. Thương tình ông Lý Trước Minh cho mượn gạo tiền, ngày này qua ngày khác.

Một bữa, tên nọ tới lạy ông mà nói:

- Đời tôi mang ơn ông nhiều quá rồi. Nay nhờ ông một lần chót. Xin ông cho tôi vay một tạ đậu xanh để làm vốn. Sau này tôi hứa sẽ trả đủ.

Ông Lý Trước Minh đồng ý. Hơn một năm tên nọ đi đâu mất. Năm đó ông qua chùa đọc sách; giữa trưa nằm chiêm bao, thấy tên đó hiện về nói rằng: "Bấy lâu nay tôi thiếu nợ ông một tạ đậu xanh, bây giờ tôi phải trả lại".

Ông Lý Trước Minh nói:

- Chú thiếu của tôi nhiều quá rồi. Hơi đâu mà trả cho đủ. Mấy năm nay chú đi đâu? Tôi miễn nợ cho chú.

Tên nọ lộ vẻ âu sầu, rồi biến mất.

Hôm sau người nhà tới báo cho ông hay rằng, đêm qua con lừa cái đã đẻ một con lừa đực nhỏ, mập mạp lắm. Ông Lý Trước Minh sanh nghi, đoán chừng tên nọ đầu thai để trả ơn mình.

Về nhà, ông thử kêu con lừa bằng tên của kẻ thiếu nợ. Con lừa lại ngoan ngoãn chạy lại. Lớn lên con lừa cưỡi đi đâu chơi cũng được thiên hạ trầm trồ đòi mua, nhưng ông không kịp làm giá vì luôn có người nhà đến kêu ông về.

Năm sau, lừa nọ bị con ngựa của ông cắn gãy ống chân. Có ông thầy thuốc trâu tới xin trị bệnh.

Thầy thuốc nói:

- Chừng con lừa mạnh, bán được bao nhiêu tiền, tôi chia đôi với ông chịu không?

Ít tháng sau, lừa nọ mạnh đem bán được một ngàn tám trăm. Chia ra phân nửa tiền, ông Lý Trước Minh đem về, sực nhớ thì rõ đúng giá một tạ đậu xanh của anh nghèo vay lúc trước.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

CỌP THỔI SỪNG TRÂU



Mỗi khi cọp tới phá rẫy, người ta thổi còi để đuổi. Tại sao cọp sợ tiếng còi sừng trâu? Tích xưa như vầy:

"Anh nọ giữ rẫy khoai, hằng đêm đốt lửa nướng vài củ khoai lang để ăn mà giải buồn. Gần chòi anh, có con cọp tới lui rình. Cọp ta bắt chước, móc khoai lên, thổi lửa nướng khoai như anh nọ.

Anh nọ giận lắm vì mỗi khi cọp đến, anh phải leo lên chòi cao mà trốn. Hôm sau, anh bày ra một kế: mua dầu chai đem về rưới mấy bó rơm chung quanh bếp lửa. Gần đó anh đặt hai bó củi, trong bó củi có hai cây pháo tre thật to.

Cọp ăn quen lại ngồi trên bó rơm. Dính dầu chai, dính rơm vô lông, cọp ngơ ngác không hiểu chuyện gì bèn đem hai bó củi nọ thảy vào bếp lửa. Ý của cọp là đốt lên cho sáng để coi rõ. Dè đâu khi củi ngún, hai cây pháo tre nổ lên, rơm và dầu chai phựt cháy khiến cọp phải hoảng chạy. Lửa bốc phừng phừng thiêu rụi lông, râu, làm phỏng da. Đổ quạu, hôm sau cọp trở lại ngồi sát chòi, chờ dịp trả thù.

Ngồi trên chòi cao, anh nọ vô cùng sợ hãi, bèn ném dao, mác, hũ, chén... Cọp không sợ, trái lại hả miệng thật lớn như chờ anh té xuống nhà nhai xương. Sau rốt, còn cái còi sừng trâu, anh nọ liệng xuống rớt vào ngay cuống họng cọp nọ... Cọp giựt mình không hiểu vật gì làm nghẹt thở. Cọp hít hơi, hơi gió lọt vào còi kêu lên: "Cò, Cò". Thở mạnh ra, hơi gió kêu lên: "Kè... Kè...". Hoảng sợ, cọp chạy miết về rừng. Càng sợ, hơi thở càng mạnh cho nên dọc đường cọp nghe trong họng mình: "Cò kè, cò kè...".

Từ đó về sau, hễ cọp nghe tiếng còi sừng trâu là chạy cong đuôi.



CHÙA THẦY THIẾM Ở NÚI SẬP



Ở tỉnh Long Xuyên có núi Sập.

Núi này còn tên khác là Thoại Sơn. Thoại chính là ông Nguyễn Hữu Thoại, một danh tướng đời vua Gia Long được phong tới tước hầu (Thoại Ngọc Hầu).

Sau đời ông Thoại Ngọc Hầu, dân chúng về núi Sập làm ăn ngày càng đông đúc, lập vườn làm ruộng theo chân núi. Bỗng một hôm nọ, hàng xóm tri hô lên: "Thằng ăn trộm dừa kìa! Bắt nó lại". Tội nhân chừng sáu mươi tuổi, ăn mặc nâu sòng hết lời nài nỉ: "Tôi ở trên núi. Mùa này thiếu nước uống. Vì vậy, xuống đây hái dừa uống cho đỡ khát".

Xem tướng mạo hiền lành của ông, người chủ vườn bằng lòng tha tội. Ông đạo nói:

- Bà con có lòng tốt thương tôi, tôi không biết làm sao đền đáp lại. Vậy từ rày về sau tôi sẵn sàng xem mạch hốt thuốc dùm.

Ông đạo rất giỏi về khoa trị bệnh con nít. Một vị quan đại thần đem đứa con bệnh nặng cho thầy trị dùm.

Thầy nói:

- Bệnh ngặt lắm, thượng động Cố hỉ. Nếu đứa nhỏ lành bệnh tôi phải chết thế nó. Bằng như nó chết, tôi còn sống được ít lâu. Để tôi đi thiếp hỏi lệnh trên xem thế nào.

Thầy nằm xuống nhắm mắt ngủ rồi chết luôn. Dân làng làm lễ thiêu xác thầy, thấy còn sót lại một lóng tay y nguyên, không cháy. Nghĩ rằng hồi nào tới giờ, thầy làm toàn việc thiện không ăn tiền ai nên dân làng xây một cái tháp trong đó để tro của ông thầy và lóng tay.

Hằng năm, ngày mùng năm tháng năm có lễ rất lớn để nhớ ơn thầy.

Thầy tên thiệt là Sanh. Vì có tiếng đồn rằng vợ thầy là một vị nữ thần đã từng giúp thầy trị bệnh, nên dân chúng gọi là Thầy Thiếm (Thiếm vợ của Thầy). Vị nữ thần này không ai gặp mặt được.

Người ta thuật lại: Thầy Thiếm có một cái cốt ông tướng nhỏ bằng ngón tay cái. Ông tướng này linh lắm. Xóm giềng ai có đặt rượu phải cho thầy hay. Bằng không, ông tướng này uống lén, rượu sẽ lạt mùi như nước lạnh.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

THƯƠNG NƯỚC THƯƠNG DÂN




Cụ Phan Thanh Giản là quan Kinh lược ba tỉnh phía Tây (An Giang, Hà Tiên, Long Hồ). Làm quan lớn có địa vị quyền thế, vậy mà cụ sống cuộc đời thanh đạm, bình dân.

Khi cha qua đời, cụ Phan bưng từng món ăn dâng cúng và đích thân làm cỏ, gánh đất đắp mộ để báo hiếu.

Sản nghiệp của cụ không có gì cả. Phu nhân thì đích thân cấy lúa, trồng bông vải. Nhà thờ tổ tiên thì phên tre, cột dựng bằng cây mấm.

Năm đó, cụ về chịu tang cha, đi bằng ghe nhỏ như thường dân. Qua sông Bà Lai, viên cai đồn kêu kêu xét gắt gao; đích thân cụ lên trình và năn nỉ. Sau cụ đòi viên cai đồn tới dinh. Anh nọ hoảng sợ, xin cụ tha tội vô lễ hôm trước.

Cụ đáp: "Đó là ngươi làm đúng phận sự. Ta khen ngợi". Rồi thăng anh nọ lên chức chánh đội, thưởng một trăm quan tiền.

Ngày nọ cụ đi thăm mộ. Có tên Cang đi phía trước vác cây tre chưa trẩy nhánh. Chừng qua khúc quẹo, ngọn tre quơ đụng nhầm cụ làm trầy da rách áo.

Cụ nói:

- Chú kia! Hạ cây tre xuống lập tức. Đưa cây mác cho ta!

Tên Cang hoảng sợ, e bị trừng phạt nặng nề.

Dè đâu, cụ cầm mác, trẩy nhánh tre cho sạch rồi nói:

- Như vậy có gọn hơn không? Vác về nhà đi. Từ rày về sau phải có ý tứ, kẻo thiệt hại đến người đi đường.

Bình sinh, cụ rất thích bông quỳ. Theo cụ, vì bông quỳ có sắc tự nhiên, lòng dạ ngay thẳng nên nó dám nhìn vào mặt trời mà không e thẹn với lương tâm mình.

Năm 1867, quân Pháp kéo đến Vĩnh Long. Thừa lúc cụ đang thương thuyết trên chiến hạm, bọn giặc đổ bộ chiếm thành. Cụ Phan nhịn đói mười bảy ngày nhưng không chết. Sau rốt cụ bưng chén thuốc độc mà uống.

Năm đó cụ được bảy mươi mốt tuổi.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

LỘC GIÁC CHƠN NHƠN




Sách Hội Chân - Biên chép lại:

Ở tỉnh Cao Bằng, có anh tiều phu rất hiền hậu mà cũng rất nghèo nàn. Anh còn bà mẹ tuổi đã cao. Một hôm, mẹ tỏ ý thèm sữa nai.

Làm sao tìm được bây giờ? Vào rừng, hễ gặp anh là nai chạy trốn mất. Anh bèn đứng trên non cao mà khóc.

Bỗng nhiên, hiện ra một ông lão quắc thước. Ông lão nói với anh:

- Muốn tìm được sữa nai thì phải mang lốt da nai này vào mình.

Nói xong, ông lão trao cho anh miếng da nai. Nhờ vậy, anh đến gần bầy nai dễ dàng, vắt sữa rất nhiều về cho mẹ uống.

Vài hô sau, ông lão nọ đến tìm anh, có ý muốn thâu nhận anh làm đệ tử.

Sau khi mẹ mất, anh đi lên núi biệt tích luôn.

Năm đó, đứa con trai của anh lên non hái củi, tình cờ gặp con nai to lớn. Nai ấy lại gần mà nói với anh:

- Cha bây giờ tu Tiên đắc đạo hóa ra Nai, không hoàn cốt người được nữa. Cha cho con nguyên bộ sừng này. Con lấy dây buộc nó lại rồi kéo theo sau. Đi tới nơi nào mà sừng bị vướng không kéo nữa được, con dừng chân tại đó, khai phá lập nghiệp thì ắt được sung túc hiển vinh.

Dứt lời con nai lớn nọ húc đầu vào gốc cây, ghim sừng bỏ lại, rồi biến mất.

Đứa con thi hành đúng lời cha. Nhờ vậy trở nên giàu có.



THAM THÌ THÂM



Hồi xưa, có đứa bé chăn trâu nọ không ai nhớ tến gì, chỉ biết tánh tình nó hiền hậu.

Từ sáng tới chiều, nó dãi nắng dầm mưa để chăn trâu. Vậy mà khi về tới nhà là nó bị mẹ ghẻ và mấy đứa em một cha khác mẹ xúm lại rầy la.

Trưa hôm nọ, đói bụng quá, nó lén đến lùm chuối gần nấm mồ hoang nọ. Thấy mấy trái chuối chín bói, nó thò tay bẻ. Vừa lúc ấy, một con quỷ dạ xoa hiện ra thét lớn:

- Nghèo đói thì ráng chịu. Đừng ăn cắp. Phen này tao tha tội cho. Đừng tái phạm.

Nó chạy trốn. Rồi ngồi xuống bờ ruộng than thở số phận với Trời:

- Thiên hạ giàu, phận tôi sao nghèo quá vậy ông? Ông hóa phép tạo vạn vật muôn loài. Sao ông không hóa phép giúp tôi chút ít tiền bạc để sống qua ngày?

Bỗng nhiên nó thấy một tia nắng nhểu xuống giữa bãi cỏ, vàng lườm. Chạy lại coi thì rõ ràng một đồng tiền vàng. Nó mừng quá, định ra chợ mua quần áo mới.

Dọc đường, gặp bà lão đói rách đứng ngửa tay xin. Suy nghĩ hồi lâu, nó cho bà đồng tiền nọ rồi trở về nằm ngủ trên bãi cỏ. Bụng đói áo rách nhưng nó vui với việc thiện khi nãy.

Bỗng nhiên, nó nghe đôi trâu vừa lội vừa giãy giụa đùng đùng dưới ao. Coi lại thì ô hô! Giống như cảnh chiêm bao. Mặt nước vàng lườm, nắng chói xuống đỏ ối như sắp đọng lại. Nó đuổi đôi trâu lên bờ. Ngạc nhiên làm sao! Mỗi sợi lông trâu có dính theo tòn ten một đồng tiền vàng. Nó gỡ ra một hai đồng, còn dư lại bao nhiêu thì giấu lại dưới đáy ao.

Nhờ vậy, nó trở nên mập mạp vì đủ cơm đủ áo hơn trước. Hễ hết tiền thì xuống ao mò lên vài đồng. Bà mẹ ghẻ và mấy đứa em của nó lần hồi sanh nghi, thay phiên nhau rình rập. Chừng biết vàng nọ ở đáy ao, họ sắm một miệng chài thật lớn chờ đêm đến là xúm ra kéo trộm hết vàng dưới ao lên.

Họ vãi chài xuống, kéo thử thấy quá nặng. Họ mừng rỡ, hì hà hì hục suốt đêm chừng hừng đông mới đem chài lên được. Dòm lại thì hỡi ôi, toàn là bùn sình dơ dáy.

Trời nào giúp kẻ gian ác, phụ kẻ hiền lương bao giờ?
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

BÀ KIÊM GIAO



Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất trong vịnh Xiêm La, hình dáng giống như con cá hóa long, đầu ở phía Bắc, đuôi ở phía Nam.

Tục truyền hồi xưa có ông chúa người Cao Miên ra đó lập nghiệp. Ông này tên là ông vua Lối. Về sau, mùa màng thất bát, vua Lối bỏ đảo trở về đất Cao Miên.

Sau đó, có một bà già người Việt Nam tên là Kiêm Giao ra lập nghiệp. Bà chiêu mộ chừng một trăm dân gồm người Việt và người Miên. Bước đầu là khai phá vùng Cửa Cạn. Thấy đất phì nhiêu, bà cho người vào trong đất liền mua đem ra năm chục con trâu. Nhờ vậy, mùa màng càng thêm thịnh mậu.

Năm đó bà Kiêm Giao được bảy mươi tuổi. Nhuốm bệnh nặng, bà gọi gia nhân lại mà trối:

- Khi ta chết, bao nhiêu ruộng đất này sẽ đem ra chia đồng đều cho các ngươi, vì ta không có con kế tự. Ta chỉ ước ao điều này thôi: Làm sao các ngươi cũng phải thả bầy trâu này cho chúng nó được thảnh thơi. Nếu còn trói cầm nó, vong hồn ta ắt bị tội nặng dưới Diêm đình.

Sau khi bà nhắm mắt, bầy trâu nọ được thả ra chạy tứ tán trong rừng. Vì vậy bây giờ ở Phú Quốc trâu rừng rất nhiều. Nơi chuồng trâu cũ của bà Kiêm Giao còn di tích một cây cột bằng trai. Cột ấy cao chừng một thước rưỡi, cây trở nên cứng như đá.



CÂY KỲ NAM



Ở tỉnh Khánh Hòa, có nàng nọ giỏi về phép thần thông. Nàng ngao du qua đến bên Tàu. Nhan sắc lộng lẫy đó khiến thái tử Tàu để ý, cưới nàng làm vợ, sanh hai đứa con trai mặt mũi khôi ngô.

Lần hồi, thái tử Tàu say mê một nàng khác ở tỉnh Phước Kiến mà lãng quên người vợ Việt Nam này. Nàng thua buồn định trốn về nước.

Thuở đó bên Tàu có cây Kỳ Nam rất quý, dùng làm vị thuốc hoặc tiện ra hột chuỗi cho các quan đại thần đeo. Sực nhớ đến nước nhà không có giống Kỳ Nam, nàng quyết tâm thâu về tổ quốc nguồn lợi quan trọng đó. Bữa kia, nàng bẻ một nhánh Kỳ Nam, đọc thần chú rồi thả nhánh nọ xuống biển. Rồi mẹ con ngồi lên nhánh đó, gió xuôi đưa trở về Khánh Hòa, tấp ngay Cửa Bé. Nàng rứt nhánh Kỳ Nam ném tung khắp hướng trên núi. Nhờ phép linh của nàng, cây Kỳ Nam mọc đều khắp trên núi, giống như loại chùm gởi, mùi thơm bay nực.

Hòn núi đó bây giờ tên là Hương Sơn, có thứ Kỳ Nam tốt nhất.

Nói về thái tử nọ, khi hay tin bà vợ trốn về Việt Nam thì hoảng sợ, sợ nhất là bà vợ nọ tóm thâu hết tất cả cây Kỳ Nam bên Tàu. Chàng ra lệnh đóng chiếc thuyền, trương buồm qua Khánh Hòa. Nàng hay được bèn bày ra một kế: Thừa lúc đang vui vầy ăn tiệc, nàng niệm thần chú khiến tảng đá lớn trên núi lăn xuống nhận chìm ghe của chàng. Chàng không còn phương thế nào về Tàu được nữa đành ở lại với vợ con.

Bây giờ, tại Cửa Bé, tỉnh Khánh Hòa còn thấy dạng hai tảng đá lớn chất chồng. Tảng dưới giống hình lái ghe, tảng trên giống hình hòn đá nhận chìm ghe.

Không bao lâu, vợ chồng đều chết. Dân chúng nhờ ơn nàng đem giống Kỳ Nam về nước nên lập miếu thờ.

Rất tiếc là hai đứa con trai của nàng lớn lên tánh tình quá đổi hung hăng nổi danh là cậu Chài, cậu Quý phá xóm phá làng, làm mất thanh danh của người mẹ yêu nước.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

NHÂN TÀI CỦA LÀNG ÔNG VĂN



Làng Ông Văn quận Chợ Gạo tỉnh Mỹ Tho có cụ đồ nho tên Mới, thứ Sáu, vì vậy dân làng gọi là ông Sáu Mới.

Ông rất giỏi về khoa đặt thơ và câu đối hài hước.

Sau đây là bài thơ của ông vịnh bàn thờ Tài Thần:

Đ.h. thần tài thiệt quá ngu,
Người sao nhóc túi kẻ trơn lu.
Vắng hoe ruột ngựa, kìa quân tử!
Đầy rẫy rương xe, nọ thất phu.
Nhà có, lại thêm vàng với bạc,
Nước nghèo, không giúp điếu cùng xu.
Hèn chi trót kiếp lòn trôn ghế,
Không ló mặt ra với địa cầu.


Lúc trong nước có phong trào Duy Tân, ông giúp cụ Kỳ Ngọai Hầu Cường Để mười sáu ngàn đồng để sung vào việc nghĩa. Ghét mấy kẻ khác có của mà hà tiện, ông bèn vẽ lên vách một con rít lớn, chung quanh nào là diều, quạ, chim, mèo... xúm lại rỉa thây. Bên bức tranh, có câu thơ:

Con rít núi!
Coi này con rít núi!
Bo bo giữ cho mình,
Bị chim dữ nuốt trụi.


Tết năm 1926, ông không đốt pháo dựng nêu chi hết, chỉ viết vỏn vẹn hai đôi liễn ngạo đời.

Đôi thứ nhất:

Trái đất nhắm tròn vo, sợ nỗi dựng nêu lăn tróc gốc,
Lòng trời xem thấy chủng, chỉnh e đốt pháo xịt phồng da.


Đôi thứ nhì:

Thịt vô hạn béo, bánh vô hạn dẻo, xuân sắc thập phần vô hạn nhẽo,
Nêu bất thăng cao, pháp bất thăng kêu, giang sơn thiên lý bất thăng tiều.


Ý của ông Sáu Mới là công kích ngầm sự cai trị áp chế của thực dân Pháp: Dầu cho ngày Tết có thịt ngon, bánh ngọt, nêu cao, pháo nổ nhưng giang sơn này vẫn buồn hiu.

Lòng yêu nước, tài văn chương của ông thật xứng đáng lưu truyền hậu thế.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

CỤ ĐỒ CHIỂU GIẢ ĐIẾC




Cụ Đồ Chiểu là một bậc sĩ phu làm rạng danh cho nước Việt Nam ta.

Năm hai mươi sáu tuổi, cụ ra ngoài Huế để thi Hội. Dọc đường hay tin mẹ từ trần, cụ trở về thọ tang, than khóc đến mù cả mắt.

Năm 1861, Pháp chiếm miền Đông Nam Kỳ, dẫu bệnh tật, cụ vẫn hăng hái sung vào bộ tham mưu của nghĩa quân, bàn cơ mưu giết giặc với ông Đốc binh là ông Trương Công Định.

Sau đó, cụ về Bến Tre dạy học, soạn sách.

Quan chánh tham biện người Pháp ở tỉnh Bến Tre rất hâm mộ tài năng của cụ, đích thân đến tận nhà thăm viếng. Nhưng mỗi khi viên thông ngôn dịch lại, cụ giả đò không nghe như người điếc.

Lần đầu, quan tham biện cho cụ hay rằng: "Điền đất của cụ ở Gia Định nay đã tra xét rồi, nhà nước mời cụ ra nhận".

Cụ nói: "Tôi không dám nhận. Nước đã mất. Của riêng của tôi làm sao còn được".

Lần thứ nhì, quan tham biện ngỏ ý muốn cấp cho cụ một số tiền dưỡng lão. Cụ từ chối.

Lần thứ ba, quan tham biện đến nhờ cụ sửa lại bộ thơ Lục Vân Tiên mà quan đã sao lục để cho đúng bổn chánh. Cụ nhận lời.

Tục truyền rằng: Bình sinh không bao giờ cụ dùng xà bông, chỉ giặt quần áo bằng nước tro. Hỏi sao cụ mặc toàn đồ trắng, cụ nói:

- Tôi để tang cho đất nước.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ÔNG TĂNG CHỦ NUÔI CỌP BẠCH



Vùng Bảy Núi xưa kia cọp rất đông. Ông Tăng Chủ đến đó lập trại ruộng.

Một hôm về trại, ông gặp con cọp bạch đứng chực sẵn ngoài cửa. Nhìn kỹ, rõ ràng cọp nọ đau nặng, mình mẩy ốm nhom. Cọp hả miệng ra, ngước lên như cầu khẩn. Ông Tăng Chủ hỏi:

- Làm gì mà bạch hổ ngồi đây? Ờ... Chắc là mắc xương hả?

Cọp gật đầu. Ông bảo cọp nọ cúi đầu xuống rồi ông vung tay đấm xuống ngay sau cổ nó. Cục xương văng ra.

Ông nói:

- Từ rày về sau bạch hổ đừng tham ăn nữa, nghe không!

Vài hôm sau, bạch hổ cõng lại một con heo để đền ơn.

Lần nọ, trên núi Bà Đội Om có con hạm rất dữ. Ông Tăng Chủ gọi bạch hổ đến để cùng với ông đi đánh hạm. Hạm phải té xuống hố mà chết.

Về sau, dân chúng nhớ ơn nên cất miễu thờ Bạch Hổ và xây mộ cho ông Tăng Chủ ở gần chùa Thới Sơn.



TÍCH BÀ ĐEN Ở NÚI TÂY NINH



Ngày xưa, núi Bà Đen gọi là núi Một. Trên đó, có tượng Phật bằng đá rất linh thính. Người Việt Nam, Cao Miên, Chàm... xúm nhau dọn đường để lên cúng Phật. Họ phải đi từng đoàn vì dọc đường cọp beo rất nhiều.

Lý Thị Thiên Hương là cô gái văn hay, võ giỏi, gốc ở Trảng Bàng, thuở nhỏ, nước da của cô đen đúa nhưng lớn lên trở nên xinh đẹp.

Mỗi ngày rằm, cô lên núi lạy Phật. Trong làng có chàng thanh niên tên Lê Sĩ Triệt đem lòng yêu mến cô.

Một hôm, vị quan Cao Miên nọ toan dùng võ lực bắt sống cô đem về làm thiếp. Quan ta bèn ra lệnh cho tên thầy võ thi hành. Lúc cô Lý Thị Thiên Hương bị tên võ phu nọ đánh bạ, bỗng nhiên Lê Sĩ Triệt xông ra cứu được. Về nhà, cô thuật lại cho cha mẹ hay. Cha mẹ cô đồng ý cho làm lễ thành hôn. Nhưng lúc ấy nhằm lúc Võ Tánh chiêu binh giúp vua Gia Long đánh Tây Sơn, Lê Sĩ Triệt lập tức tòng quân.

Cô Thiên Hương chờ ngày Lê Sĩ Triệt trở về ca khúc khải hoàn. Rủi thay hôm nọ, lúc đang cầu khẩn trên núi, bọn cướp Miên đến bao vây. Nàng phải chạy vào rừng mất tích luôn.

Qua đời Minh Mạng, có vị Hòa thượng trụ trì trên núi Tây Ninh. Một hôm đang niệm Phật, sư cụ thấy một nàng nọ, mặt đen nhưng xinh đẹp hiện ra nói văng vẳng:

- Ta đây là lý Thị Thiên Hương, khi mười tám tuổi bị bọn cướp rượt nên té xuống hố chết. Nay ta đắc quả rồi. Hòa thượng nên xuống triền núi phía Đông Nam tìm thi hài ta mà chôn cất giùm...

Đúng như lời, Hòa thượng gặp xác của cô, đem chôn cất. Vì tiếng đồn, vài người Cao Miên đến coi đám ma nọ, nhưng vừa tới nơi là họ hộc máu ngã ra chết.

Quan Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt bèn lên núi để biết hư thực. Ngài hứa dâng sớ về trào để truy phong cho cô Thiên Hương, nếu cô làm thế nào cho ngài thấy tận mắt sự hiển hách. Dứt lời cô Thiên Hương bèn nhập vào xác một đứa con gái mà nói:

- Hồn của Thượng quan nay mai được chức Thần kỳ linh hiển, nhưng xác của Thượng quan phải bị hành hạ.

Quan Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt nói:

- Bổn chức không cầu xin biết tương lai của mình. Bổn chức muốn biết rõ căn do của nàng.

Xác nọ bèn rơi nước mắt thuật lại việc chết oan của mình và nhắc lại duyên tiền định với Lê Sĩ Triệt. Theo lời thuật lại thì sau khi thành Bình Định thất thủ, Lê Sĩ Triệt tử tiết theo Võ Tánh, đã được phong chức Thần tướng coi sóc hai tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận. Vì muốn được trường sanh bất tử nên hai đàng không chung chăn với nhau.

Nhờ vậy nàng được phép xuống cõi trần thế để cứu dân độ thế.

Dứt lời cô gái nọ nhào ngửa, bất tỉnh nhân sự, hồi lâu mới tỉnh.

Quan Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt bèn thay mặt nhà vua mà phong cho Lý Thị Thiên Hương chức vị "Linh Sơn Thánh Mẫu" ngự ở núi Một, tức là núi Bà Đen bây giờ.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

CON GIÁN, CON NHỀN NHỆN



Theo tục lệ ngày xưa, con gián và con nhền nhện là hai loài đem điềm làm ăn khá giả cho nhà cửa. Bởi vậy không ai đuổi chúng nó.

Thuở ấy con gián hát rằng:

- Răng chừ cho chúa tao giàu,
Để tao ăn mỡ, ăn dầu ban đêm!


Con nhền nhện cũng chúc điều may mắn:

- Răng chừ cho chúa tao sang,
Để tao mắc cửi tao giăng cả nhà!




CON VẠC ĂN ĐÊM



Thuở xưa chim đa đa, con cò, con vạc và con chim rù rì sống thân thiết với nhau. Hễ gặp cá, tép, nhái... chúng chia mồi đồng đều.

Về sau, mấy con chim trên đây sanh tật cờ bạc, chỉ có con cò là thắng cuộc. Vì vậy chúng phải làm giấy thiếu nợ của con cò; có con chuột làm biện thảo văn tự.

Dè đâu con chuột thông đồng với con cò để gian giảo.

Vạc thua có một vác, nhưng chuột ghi là chín chục vác (một vác bằng sáu quan).

Chuột lại còn ghi rằng: Chim rù rì cầm tất cả đất đai.

Đúng ngày không sao trả hết số nợ, tất cả tài sản của con nợ đều bị tịch thâu. Con cò nhờ vậy làm giàu. Vạc tức giận, hằng đêm lén đi ăn cắp cá tôm trên đất của cò. Vạc kêu:

Vạc! Vạc! Thua một vác,
Thua một vác!


Chim rù rì cũng tức mình than thở:

Đông tây tứ chí bán hết!
Mần như ri cực, cực.
Đi mô cũng cực.
Đi mô cũng cực.


Chim đa đa nhớ món ăn cũ:

Tiếc rổ tép, đa đa!
Tiếc rổ tép, đa đa!


Vì làm tờ văn tự gian giảo giùm cho cò nên con chuột vô cùng hối hận. Ngày đêm chuột chui rúc vào bụi rậm, xuống hang, sợ mấy con chim mất của kia trả thù. Nó thở dài:

Chín chục, chín chục.
Chín chục, chín chục...


Ý nói chín chục quan nọ là ghi sai lầm thay vì có sáu quan nợ thôi!
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

THEO THƠ VẬN TỪ THỨ



Hồi quân Pháp mới xâm chiếm nước ta, ở tỉnh Long Hồ (Vĩnh Long) có ông Tôn Thọ Tường là người rất giỏi về thi phú.

Dưới triểu Tự Đức, ông làm đến chức huyện. Sau đó ông bị bắt tội đưa về kinh. Được ân xá, ông từ quan. Khi Đề đốc Thủy sư Lagrandière cai trị ba tỉnh miền Đông, Tôn Thọ Tường ra đầu hàng, làm huyện.

Bị các nho sĩ thời bấy giờ chê bai là phản quốc, Tôn Thọ Tường ví mình như Từ Thứ quy Tào trong truyện Tam Quốc nên làm bài thơ này:

Hiếu đâu dám sánh kẻ cày voi!
Muối xát lòng ai nấy mặn mòi!
Ở Hớn còn nhiều trang cột cả!
Về Tào chi xá một cây còi.
Thức tình nhớ mẹ không nâng chén,
Chạnh nhớ thương vua biến dở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,
Thân này khác thể ngoại vòng thoi.


Bài thơ này biện hộ khéo léo cho hoàn cảnh của Tôn Thọ Tường. Vần voi, mòi, coi, roi, thoi, thật khó gieo, vậy mà Tôn Thọ Tường dùng rất tự nhiên. Các sĩ phu miền Nam bắt đầu lấy mấy vần đó mà hạn lệ, gọi là Từ Thứ.

Theo vận Từ Thứ nói trên, ông cử Phan Văn Trị có làm mấy bài thơ dưới đây:

Thơ hát bội

Đứa bị ghẻ ruồi, đứa lác voi,
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi.
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc,
Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi.
Trên trính có nhà còn lợp lọng,
Dưới sân không ngựa lại giơ roi.
Hèn chi chúng nói bội là bạc,
Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi.



Đồn lính mã tà

Quan truyền lính thú tại mô voi,
Làng nhắm chỗ ni đã phát mòi.
Sớm đón ghe lên xin quít núm,
Chiều ngăn thuyền xuống kiếm dưa còi.
Tả biên nghiêm chỉnh chiên cùng trống,
Hữu dực phô trì giáo với roi.
Dọa hẩm đàn bà nên quá giỏi,
Nghe hơi ăn cướp chạy dường thoi.





CÔNG CHÚA MAI CHÂU



Đời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tôn sanh được nàng công chúa xinh đẹp tên là Mai Châu. Năm công chúa được mười ba tuổi, các bộ lạc mọi ở vùng Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) nổi dậy chống người Việt Nam, không ai dám cử binh chinh phạt. Công chúa Mai Châu mặc dầu nhỏ tuổi cũng xin phép vua cha ra trận. Vua bèn cho mười chiến thuyền và năm ngàn quân. Thuyền đến bờ Quảng Bình thì bỗng nhiên sóng to gió lớn nổi lên ầm ầm.

Các binh sĩ đoán là điềm Long thần muốn bắt công chúa. Công chúa suy nghĩ: "Nếu nàng không nhảy xuống cho Long thần ăn thịt thì tất cả mười chiến thuyền này bị đắm". Sau khi trối lại với quân sĩ, nàng nhận sự hy sinh, nhảy xuống biển.

Hay được tin ấy, vua Lê Thánh Tôn lập tức đến nơi, dùng kiếng chiếu yêu mà rọi xuống đáy biển. Khi nhận được sào huyệt của Thủy cung, vua hạ lệnh bắn súng thần công xuống. Ba ngày sau, Long thần phải đem xác chết của công chúa trả lại.

Sau đó, vong hồn của công chúa Mai Châu rất nên linh hiển. Đời Minh Mạng, giặc Phan Bá Vành khuấy rối triều đình. Công chúa báo mộng cho vua hay: "Ngày mười tám tháng ba, vào khoảng canh hai khi thấy trong dinh trại của Phan Bá Vành có đóm lửa xanh nổi lên thì quân triều đình cứ tấn công vào".

Thi hành đúng lời nàng, vua dẹp được giặc.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

HOÀNG HẬU TÀU Ở VIỆT NAM



Đời nhà Trần, tại tỉnh Nghệ An có ông câu rất nghèo. Năm đó ngày mùng một tháng sáu, ông ra vàm rạch bỗng gặp một khúc cây to lớn tấp lên bãi. Ông lên đó mà ngồi, chặt mồi ra từng khúc nhỏ để câu. Dè đâu khi lưỡi dao chạm vào, cây nọ tươm máu ra, lại có phảng phất mùi thơm tho kỳ diệu.

Ông chạy về báo cho xóm làng hay. Sau khi khấn vái, hồn khúc cây đạp đồng, dân chúng mới biết đó là hồn ma của bà Hoàng hậu đời Tống bên Tàu và ba đứa con gái. Lúc trước, mấy mẹ con đều bị quân Nguyên soán ngôi, giết chết. Đồng nữ lại nói rằng: "Đem khúc cây bạch đàn này về tiện ra bốn cốt mẹ con tôi mà thờ thì xóm làng được phù hộ, làm ăn sung túc".

Dân làng thưa: "Nếu bà có linh thì hóa phép thế nào cho khúc cây to này lăn lên bờ, Chúng tôi sẽ tạc tượng bà mà thờ".

Dứt lời khúc cây nọ tự nhiên lăn về làng. Đền thờ được dựng lên cùng với tượng bà hoàng hậu nọ và ba đứa con.

Sau này, vua Gia Long ngự giá ra Hà Nội có đi ngang qua đền thờ nọ. Được biết chuyện ấy vua nói: "Nếu bà có linh thì làm điềm cho biết".

Hoàng hậu nọ đạp đồng lên mà hỏi:

- Vua muốn điềm gì?

Vua bèn đem ra ba vóc lụa, ra lệnh cho hàng hậu cắt may áo lập tức. Chập sau, hoàng hậu hiện ra lãnh ba vóc lụa. Trong phút giây, một đứa đồng nam hiện ra dâng ba cái áo đà may xong.

Vua bèn phong sắc thần cho hàng hậu. Về sau có bọn giặc Tàu Ô toan vào miếu của bà để cướp giật vàng bạc của thiên hạ dùng. Nhưng chúng phải hộc máu mà chết.




XÃ ĐỊNH KIỆN BÀ CỐ



Tỉnh Bình Thuận, có miễu bà Cố rất linh thiêng. Ai đi ngang qua phải cúi đầu; nếu đi ngựa, phải xuống ngựa, bất tuân thì hộc máu.

Ngày nọ Xã Định được lệnh đi hầu quan trên thật gấp. Lúc qua miễu, Xã Định nói: "Tôi có việc quan cần đi gấp. Đêm tăm tối, dừng lại đây e mất thời giờ hoặc bị cọp ăn thịt bất thình lình. Xin bà cảm phiền, hôm nào trở về, tôi sẽ tạ một heo".

Vái xong, Xã Định giục ngựa chạy qua. Tuy bị hộc máu nhưng chú ráng sức tiếp tục lộ trình. Bận về, Xã Định biết mình bị bà Cố quở nên đem một heo lại cúng. Lạ quá, bệnh tình không thuyên giảm.

Tức mình, Xã Định nói:

- Bà giỏi thì vật tôi chết luôn đi. Xuống âm phủ, tôi sẽ kiện bà trước mặt Diêm chúa.

Khi hấp hối, Xã Định bảo vợ chôn theo hòm một trăm tờ giấy bạch, mười cây bút lông, năm thẻ mực tàu.

Vài tháng sau, bà Cố đạp đồng lên mà nói với dân làng:

- Các ngươi phá miễu của ta đi, đừng cúng kiến nữa.

Hỏi sao vậy thì đồng nữ đáp: "Tôi bị thất kiện nên Diêm chúa giáng chức tôi, bây giờ vụ kiện đang giằng co, tôi không rảnh rang về hưởng được".

Dân làng không tin. Đến ngày cúng miễu năm đó, Xã Định đạp đồng mà báo tin: "Tôi thắng kiện rồi. bà Cố bị cách chức, đừng cúng nữa vô ích. Bả không về miễu nữa đâu. Không tin hỏi ông Địa sẽ rõ".

Ông Địa lên xác nói đúng lời Xã Định. Từ đó về sau, miễu bị phá. Đi ngang qua không ai còn cúi đầu hoặc xuống ngựa.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

MA RỪNG



Làng Phan Lang, tỉnh Bình Thuận có vợ chồng của tên Giáo. Họ không có con, vào rừng hăng hái chém tre đẵn gỗ, dọn đất làm rẫy.

Hai năm sau, rẫy trúng mùa lắm, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Chồng mới biểu vợ mua gà, vịt, ruợu, trầu cau để cúng đất đai.

Lễ cúng đã xong xuôi, vợ anh Giáo ra phía sau nhà. Thình lình gặp một con voi đón đường, chị vợ hoảng sợ té ngửa, chừng tỉnh dậy thì mất cái quần. Vô nhà thuật lại sự tình thì anh chồng không tin, nghi rằng vợ lén tư tình với ai. Vợ tức giận, thách chồng ra sau hè để tỏ tường sự việc.

Anh chồng bước ra sau nhà. Tức thời một con voi to lớn chạy lại quấn vòi mà rứt nguyên cái đầu. Làng xóm hay được, ngơ ngẩn không hiểu vì sao xảy ra chuyện ấy.

Có ông kỳ lão sống gầm trăm tuổi giải bày:

- Đất này xưa kia đầy thú dữ như: cọp, voi, rắn... Khi chết, thú nọ thành tinh. Hồi còn trai trẻ, chuyện xảy ra cũng giống như vậy.

Hỏi:

- Tại sao ông biết! Bằng cớ ở đâu?

Ông kỳ lão nói:

- Cứ đào đất lên, ngay chỗ hồi nãy.

Dân làng thi hành y lời, quả nhiên tìm được dưới đất cái quần của chị vợ và thủ cấp của anh chồng còn tươi máu.



BÀI THƠ CHỢ QUÁN



Quan Huyện ở Chợ Quán (Sài Gòn) hôm nọ nhận được một gói giấy nhỏ. Mở ra thấy một miếng trầu, một mớ tóc, một đồng tiền kẽm, vài cái lông vịt, vài cọng cỏ.

Không hiểu đó là vật gì, ông nhờ cụ đồ nho nọ giải đáp giùm. Cụ đồ bàn rằng:

- Đây là bức thư của vợ gởi cho chồng. Bà vợ hiện bị giam trong khám, nhớ thương chồng nên tạm dùng mấy món nói trên mà gợi ý thơ. Bài thơ nọ như vầy:

Ở trong Chợ Quán thêm sầu,
Cơm ăn không không đặng, ăn Trầu giải khuây.
Tóc mai sợi vắn, sợi dài,
Kết duyên không đặng, thương hoài ngàn năm.


Tiền tài như phấn thổ,
Nhân nghĩa tợ thiên kim,
Kỳ nam khó kiếm anh cũng tìm ra.
Linh đinh Vịt lội giang hà,
Nói cho tốt lớp bạc đà trong tay.
Nhiều sương Cỏ mọc bạc đầu,
Thương anh, em chịu thảm sầu thuở nay.


Quan huyện nghe có lý. Miếng giấy gói có nghĩa là khám đường. Các vật trong gói là để gợi ý bài thơ. Ông bèn cho người vào khám hỏi thử. Rõ ràng có chị nọ gởi thơ cho chồng, dè đâu thơ lạc vào tay ông. Ông thương tình bèn thả người đàn bà nọ và rót rượu thưởng tài bài thơ của ông đồ nho.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

TRUYỆN NGHĨA HỔ



Năm Tự Đức thứ tư, tại làng Long phụng, huyện Kiến Hòa (nay là Bến Tre) có gia đình họ Võ nuôi một con cọp con.

Cọp nọ lớn lên được gia đình thương mến xem như con ruột. Ông Tú tài họ Võ dạy hai đứa con của mình (một trai, một gái) kêu cọp nọ bằng anh Hai.

Vài năm sau, ông được lệnh ra Huế lãnh chức vụ mới. Trước khi đi, ông kêu cọp nọ mà căn dặn rằng ở nhà nuôi mẹ nuôi em.

Chừng ông đi được vài ngày, cọp nọ bỗng dưng lại bàn thờ quỳ xuống, la hét. Người mẹ an ủi cọp. Cọp bèn ra dấu tỏ ý muốn xin phép ra đi rồi trở về.

Bà Tứ tài họ Võ cho phép. Cọp mừng rỡ chạy mất.

Bữa đó, ông Tú tài nằm trên cáng trên đường về Huế, thình lình gặp con cọp đón đường. Nhìn lại, rõ là cọp ở nhà chạy theo! Ông biểu cọp trở về. Cọp khóc lóc, sau cùng đem dâng cho ông Tú tài một hoàn thuốc xạ hương để phòng bệnh dọc đường.

Khi về nhà, cọp nọ biếng ăn biếng uống. Về sau được thơ ông Tú tài gởi về, cả nhà mới biết rằng cọp đi kỳ rồi là để dâng thuốc. Ai nấy hết sức cảm động.

Vài năm sau, ông Tú tài đau nặng, nhờ hoàn thuốc nọ nên tạm thuyên giảm. Ông bèn gởi thơ nhắn đứa con trai lớn ra săn sóc. Đứa con đến nơi, ông đã chết.

Cọp ở nhà hằng ngày lo nuôi mẹ và em gái, rảnh thì vô rừng bắt heo hoặc đi lối xóm cột bùa cho con nít để kiếm tiền về chi dụng. Hỡi ôi, gia đình bà Tú tài càng ngày càng suy sụp. Nhuốm bệnh, bà từ trần. Cọp khóc lóc thảm thiết, chạy đầu làng cuối xóm để báo tin rồi lạy tạ ơn những người đến giúp chôn cất mẹ.

Năm bảy tháng sau, người con trai ở Huế về Bến Tre. Chừng gặp mặt, cọp khóc lóc rồi dẫn hai anh em ra thăm mả bà Tú tài. Đến nơi, cọp đập đầu vào mả mà tự tử.

Người con trai bèn để tang chọ cọp, làm lễ chôn cất kỹ lưỡng rồi lập miễu thờ, đề mấy chữ: "Nghĩa Hổ Trưởng Huynh chi mộ". Sau đó có người làm thơ khen tặng như vầy:

Hùm còn biết nghĩa nặng cùng người,
Trả thảo liều thân giữa đất trời.
Một tấm da dầu chôn trong đất,
Trăm năm còn mãi tiếng khen đời.





NGƯỜI RỪNG



Chàng nho sĩ nọ cưới cô vợ rất đẹp. Trong nhà, chàng có nuôi đứa tớ gái. Một hôm đi hái củi về, đứa tớ gái thuật lại rằng:

- Trên núi này có cái hang tối lắm. Hang quá sâu. Bỏ cục đá xuống nghe rền rền không bao giờ dứt.

Vợ chồng chàng nho sĩ bèn tò mò đến nơi xem thử. Rủi làm sao cô vợ té xuống hố. Trên này, chàng cố thả dây xuống cho vợ leo lên, nhưng vô hiệu quả.

Chàng than khóc ngày này qua ngày nọ.

Mối sầu không bao giờ nguôi được.

Bỗng một hôm, đứa tớ gái vô rừng hái củi, gặp cô chủ của mình khi trước đang đứng trên nhánh cây. Nó vừa mừng vừa sợ vì cô chủ đã thay đổi: mình mẩy mọc đầy lông, quần áo không có. Nó nói:

- Trời ơi! Tại sao vậy? Cậu ở nhà xiết bao sầu thảm. Từ ngày cô biệt tích, cậu thề không cưới vợ khác. Tại sao cô không chịu về?

Cô chủ bèn đáp:

- Về nói cho cậu rõ: cô không thể nào trở về sống chung được nữa. Cô khuyên cậu cưới vợ khác.

Đứa tớ gái vội chạy về nhà báo tin. Chàng nho sĩ đến nơi, than khóc. Cô nọ không xuống đất nói chuyện. Sau cùng, cô chịu về nhà. Nhờ có vị lương y điều trị nên cô rụng hết lông, trở nên đẹp đẽ hơn xưa.

Hỏi duyên cớ, cô nói:

- Khi té xuống hố, đói quá tôi phải ăn toàn là trái cây và lá cây mà sống. Lần hồi mình mẩy trở nên nhẹ nhàng, tôi leo lên cây gọn gàng, mình mẩy mọc đầy lông.

Người chồng rất đỗi ngạc nhiên, đoán rằng trong hang nọ có quỷ ở.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ĐỨA CON THẦN



Huyện Thanh Chương, tỉnh nghệ An có người góa phụ tên là Huỳnh Thị Phước.

Năm bốn mươi tuổi, bà vô chùa tu. Đêm nọ, bà nằm mộng thấy một người mặt đỏ như son, bận áo xanh. Giựt mình thức dậy, bà đến tìm ông Hòa thượng mà hỏi. Hòa thượng nói:

- Phật trời thấy bà là người nhân đức, thiệt tâm tu hành nên cho đứa con. Vậy bà nên ra khỏi chùa này, kẻo nay mai sanh chồi nảy lộc, xóm giềng hồ nghi cho tôi.

Chín tháng mười ngày, bà hạ sanh được một con trai mặt mũi rất khôi ngô, tuấn tú. Hương chức làng truy ra, lên án ông Hòa thượng nọ về tội thông dâm, bắt buộc ông phải hoạn dưỡng đứa nhỏ.

Lớn lên mười tuổi, đứa trẻ học hành siêng năng, có thiên tư, đọc trong nháy mắt là xong mười hàng chữ. Đến năm mười sáu tuổi, đứa bé cần có tên tuổi để đi thi. Người mẹ không biết đặt tên con là gì. Đêm đó, bà nằm mộng thấy thần linh mách bảo:

- Sáng mai, ngươi bảo đứa bé leo lên cây thị, trên đó có khắc sẵn tên nó.

Hôm sau đứa bé tìm gặp mấy chữ Lương Quý Chánh trên cây. Nó mang tên đó, vài năm sau thi đậu cử nhơn. Ngày vinh quy bái tổ linh đình biết chừng nào! Nhưng vài hôm sau, ông Hòa thượng liễu đạo. Chừng tẩn liệm biết rõ ông là người bán nam bán nữ, xóm giềng hiểu rằng bấy lâu nay ông chịu tiếng oan.



LỌT SỐ DIÊM ĐÌNH



Thuở xưa, gia đình họ Liêu luôn luôn bị chết yểu, không một ai được sống hơn tuổi Nhan Hồi (ba mươi mốt tuổi).

Trong khi ấy, ông Lữ Vọng sống đà ba trăm tuổi mà hằng ngày hãy còn khỏe mạnh, ngồi câu cá trên thạch bàn.

Cảm thấy sự bất công đó, sau khi chết, một người của gia đình họ Liêu bèn kháng cáo với Diêm chúa.

Diêm chúa rất đổi ngạc nhiên, phán rằng:

- Lẽ trời đất rất công bình, không bao giờ để một ai sống lâu quá trăm năm. Nhà ngươi đặt điều nói dóc! Theo sổ bộ của Diêm đình, không có ai sống dai. Vậy thì nhà ngươi hãy đi mời Lữ Vọng về đây để rõ đầu đuôi công việc.

Rồi cho hai tên quỷ sứ đi theo người họ Liêu trở về dương thế. Anh họ Liêu lúng túng không biết làm thế nào để chứng chắc rằng ông Lữ Vọng sống ba trăm tuổi. Hỏi không khéo, ổng từ chối thì sao. Anh ta bèn đến gần ông Lữ Vọng mà thưa:

- Thưa ông, hồi cha tôi sanh tiền có nói rằng ở đây có một hòn đá ngũ sắc xung quanh rất nhiều cá tôm. Cha tôi chết đã lâu, đến đời tôi thì tìm không được. Thiên hạ nói riêng với tôi rằng cục đá đó trôi ngược về chỗ này, gần ông. Xin ông chỉ giùm.

Ông Lữ Vọng nổi cơn thịnh nộ, cãi lại:

- Chú điên rồi sao? Tôi sống ở đây, câu cá từ ba trăm năm nay mà không hề thấy cục đá ngũ sắc nào trôi ngược hết.

Người họ Liêu bèn nói với hai tên quỷ sứ: "Rõ ràng chưa! Ổng nói ổng sống từ ba trăm năm rồi đó!".

Dứt lời, Lữ Vọng bị quỷ sứ bắt chết. Bấy lâu sở dĩ ổng sống lâu như vậy là vì tên của ổng bị sơ sót, quên lãng trong bộ tử của Diêm đình.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

NGƯỜI CHẾT TRẢ ƠN



Ở tỉnh Bắc Ninh, một chú thợ khéo léo được vua đòi về Huế để xây cất hoàng thành.

Mới đến Nghệ An, chú thợ nhuốm bệnh mà chết bên sườn núi. Liền theo đó, mối bu lại làm ổ, đùn lên như nấm mộ. Mấy đứa con của chú không hay biết cha mình chết trong trường hợp nào, ngày nào, mồ mả ở đâu để cúng giỗ. Tuy họ được làm quan vinh hiển nhưng trong lòng không nguôi.

Kế bên nấm mộ nọ, có anh nông phu tên là Khá, thấy mộ bỏ hoang, hằng ngày anh tới lui chăm sóc. Hôm nọ, đang cày ruộng thình lình anh gặp một người lạ tới mời đi ăn giỗ. Hỏi ở gần hay ở xa, người nọ đáp: "Cứ đi theo tôi".

Anh nông phu than rằng mình nghèo quá, không có áo lành lẽ.

Người nọ nói: "Đừng lo, tôi có cái áo này cho anh mượn mặc đỡ".

Rồi nắm tay anh mà dắt đi về phía đầu làng.

Chập sau, đến nơi cúng giỗ. Anh nông phu nọ hơi ngạc nhiên vì toàn là người lạ. Nhưng đói quá, anh cúi đầu ăn no say rồi ngã lăn ra ngủ.

Người bạn nói: "Mình đi về là vừa".

Anh nông phu nọ vì chưa tỉnh rượu nên trả lời:

- Anh về trước đi. Tôi về sau cũng được. Đường về gần chớ xa xôi gì.

Người bạn nói:

- Vậy thì anh trả áo lại cho tôi về trước.

Anh nông phu cởi áo ra trả, rồi nằm ngủ luôn giấc trưa. Chừng tỉnh rượu thì hô hô! Chung quanh toàn là người lạ, cảnh lạ. Người trong nhà cũng ngạc nhiên không biết anh nông phu nọ là ông khách nào. Chừng hỏi han đầu đuôi, họ đoán rằng: "Có lẽ nấm mộ nọ là của cha mình. Bấy lâu nay anh nông phu này có công giữ gìn nên cha mình trả ơn lại, mới mời về đây ăn giỗ.

Sau đó, họ đền ơn anh nào vàng bạc, lụa là. Từ Bắc Ninh, anh nông phu phải đi bộ sáu ngày đường để về đến quê nhà Nghệ An. Đến nơi vợ con chưng hửng vì hổm rày ngỡ là anh bị cọp bắt chết rồi...



VỢ KHÔN CHỒNG DẠI



Chị nọ rất khôn nhưng rủi gặp nhằm anh chồng quá dại. Hôm nọ dệt vải xong, chị giao cho anh chồng đem đi bán.

Đi suốt ngày, rao khan giọng, anh chồng không thấy ai mua. Bỗng đâu có ông thầy giáo đi ngang qua mua hai vóc. Ông nói: "Sáng mai anh lại nhà tôi mà lấy tiền. Nhà tôi ở chỗ đông không ai bán, chỗ kèn thổi tò te, chỗ cây tre một mắt".

Hom sau, anh chồng tìm hoài mà không gặp chỗ nào gọi là chợ đông mà không bán... Về nói cho vợ nghe, chị vợ mới đoán rằng người mua nọ là ông thầy giáo. Chợ đông không ai bán là trường học. Kèn thổi tò te là gầm đám sậy có gió thổi. Cây tre một mắt là cọng hành. Vì vậy, chị vợ bảo chồng đến trước cửa có trồng hành.

Anh chồng nọ kiếm được ông giáo để đòi tiền. Ông giáo hỏi: "Tại sao anh biết tôi ở đây?"

Anh nọ nói: "Vợ tôi đoán như vậy".

Ông thầy tấm tắc khen thàm cô vợ nọ.

Chừng anh chồng về, ông gởi theo một nhánh bông lài cắm giữa mọt miếng cứt trâu khôn.

Nhận được món quà nọ, cô sanh ra buồn bực, tủi giận mình. Ông giáo nọ có ý mỉa mai cô như câu hát:

Vợ khôn lấy thằng chồng dại,
Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.


Nghĩ vậy cô ra bờ sông, chờ nước lớn mà tự vận. Ông giáo nọ đoán được việc ấy nên vo cùng hối hận, giả đò xách một cái rổ rách nát đi lại mé sông. Gặp cô vợ nọ ngồi trên bờ với vẻ mặt âu sầu, ông giáo nói:

- Chị kia, ngồi qua một bên để tôi nhảy xuống sông xúc cá.

Cô vợ giật mình, ngạc nhiên vì thấy một người đầu bạc hai thứ tóc mà quá dại, dùng cái rổ rách để xúc cá. So sánh gười già nọ với chồng mình ở nhà thì chồng mình coi vậy mà khôn hơn.

Nghĩ vậy, cô tự an ủi, trở vè nhà không thèm tự tử.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

CHỒNG GIẾT VỢ



Anh nọ theo gánh hát bội phương xa nên để vợ ở lại nhà. Chừng trở về, anh mới hay vợ anh đã tư tình với người khác.

Anh sắp đặt để bắt ghen nhưng tên gian dâm nọ tẩu thoát. Anh nói với vợ:

- Tôi tha tội cho mình, nếu mình hẹn với tên nọ gặp mặt rồi xin cho được một lóng tay của nó.

Tháng sau, anh chồng đi vắng. Người tình cũ trở lại. Chị vợ bèn nài nỉ:

- Nếu anh thương tôi thiệt tình thì cho tôi xin một lóng tay của anh để làm tin.

Người tình nọ liền đưa tay vô miệng, cắn đứt một lóng tay tặng cho tình nhân.

Chị nọ đem lóng tay về dâng chồng. Anh chồng hết sức mừng rỡ. Đêm đó, anh giết vợ chết rồi cạy miệng vợ, để lóng tay nọ vào. Rồi anh chạy ra ngoài tri hô:

- Hồi nãy có người ám sát vợ tôi.

Làng xóm kéo đến, khám nghiệm thấy trong miệng chị nọ có lóng tay bị cắn đứt. Họ đoán rằng: "Chị cắn ngón tay tên thủ phạm nọ để tự vệ".

Điều tra lại thì trong làng có một người bị đứt lóng tay. Đem ráp lại, rõ ràng tên gian dâm nọ là thủ phạm. Quan trên xử tử hắn.

Nhờ mưu mẹo hiểm độc ấy, anh chồng kia giết vợ và kẻ tình địch của mình mà khỏi bị ai tình nghi.



CON DƠI



Phụng hoàng là chúa tất cả các loài chim.

Hôm nọ có lễ lớn, các loài chim đến chầu chực. Dịp đó, con Dơi vắng mặt. Phụng hoàng hỏi tội. Dơi bèn trả lời:

- Tôi không phải thuộc loài chim. Tôi là thú bốn chân. Hai cánh của tôi là hai chân trước có móng hẳn hòi.

Vài hôm sau, Kỳ Lân ra lệnh cho các loài thú đến chầu.

Con Dơi cũng vắng mặt.

Hỏi tôi Dơi bèn trả lời:

- Tôi không phải loài thú. Tôi có hai cánh bay được, rõ ràng tôi là loài chim đây nè...
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

BỘ RÂU CÒI



Đàn ông mỗi người có một bộ râu khác nhau.

Người thì râu rậm, người thì râu còi.

Sự tích như vầy:

Thuở xưa có hai kiểng chùa, một để thờ Phật ông, một để thờ Phật bà. Đàn ông có việc cầu khẩn thì vào kiểng chùa thứ nhất; đàn bà thì vào kiểng chùa thứ nhì.

Hễ ai muốn có bộ râu ba chòm cho lịch sự thì vào chùa thứ nhất. Họ sẽ được toại nguyện.

Nhưng năm đó, có người vì ở xa đến nên không rành, nhè nhẹ vào chùa Phật bà mà cầu nguyện. Phật bà hỏi:

- Nhà ngươi muốn gì?

Người nọ đáp:

- Xin được bộ râu tốt.

Phật bà bèn hạ lệnh cho Ngọc Nữ đem râu giả lại gắn vào cằm anh nọ. Ngọc Nữ có tánh e thẹn, không muốn lại gần đàn ông nên đứng ở xa mà phóng tới từng sợi râu. Vì vậy, râu cắm không được khéo, chỗ quá rậm, chỗ thì lưa thưa mấy sợi còi.



ÔNG VUA HEO



Có một đứa trẻ mồ côi tên Heo, đến nhà một ông quan mà xin ở mướn. Hằng ngày, ông quan sai nó rửa chân cho ông. Ông dặn:

- Rửa cho thật kỹ. Coi chừng tróc ba cái bớt son ở chân tao. Nếu tróc tao giết mày.

Nghe vậy tên Heo nói:

- Ông có ba cái bớt sơn. Tôi đây có tới chín bớt. Như vậy là tôi có phước nhiều hơn ông.

Vị quan nọ biết tên Heo có tướng mạng làm vua nên bảo chị đầu bếp lén thuốc nó. Chị đầu bếp không nỡ làm chuyện ác. Chiều hôm đó, khi cho heo ăn, chị gõ máng mà làm hiệu: "Heo ơi! Đừng ăn mà chết! Mày không ăn thì mày cũng chết! Heo ơi là heo".

Tên Heo nghe được, lập tức chạy lại chị đầu bếp mà hỏi sự tình. Nó hứa nay mai nếu được làm vua thì rước chị nọ về phong Hoàng hậu. Chừng đó, chị nọ cứ bỏ tóc xỏa trên vai để làm dấu thì nó nhìn được.

Rồi tên Heo lật đật trốn vào chùa. Ông Hòa thượng dạy nó hằng ngày lau chùi mấy cốt Phật. Vì làm biếng, khi lau chùi nó ra lệnh: "Giở tay lên, để tay xuống..." Tượng Phật làm theo y lời. Hôm nọ, nó bảo tượng giở tay lên nhưng sau khi lau chùi, nó quên nói: "Để tay xuống". Tượng Phật vẫn giở tay lên trời hoài. Hòa thượng thấy vậy bèn gọi làng xóm bắt nó để tra hỏi.

Tên Heo lập tức trốn qua làng bên cạnh để làm mướn giữ vườn. Bữa đó, ra vườn nó chỉ ba cây cau rồi vui miệng nói:

- Cây nầy là ông nội, cây kia là con, cây nọ là cháu nội.

Tức thời mấy cây cau một lứa bỗng thay hình đổi dạng: Cây thì hóa lão, cây đang có quày, cây thì thấp chủn. Chủ nhà tức mình, rầy la tên Heo về tội phá hư vườn của mình, bảo phải sửa lại lời nói.

- Quân tử nhất ngôn, ăn một đọi nói một lời. Tôi đã nói như vậy rồi, không nói ngược lại được.

Thế là bữa sau tên Heo bị đuổi. Nó đi lang thang, đêm đến vào nhà nọ để ngủ. Nhà quá chật, tên Heo đành mời bà Cửu Thiên Huyền Nữ xuống đất để nhường cái trang cho nó. Bữa sau, chủ nhà ngạc nhiên thấy bao nhiêu đồ thờ đều dời xuống đất. Bà Cửu bèn đạp đồng lên nói:

- Bởi vì hồi tối, người nọ có khí tượng Đế vương đến ngủ, tôi phải nhường chỗ.

Từ đó, tên Heo mất dạng, được làm vua ở nơi nào hoặc đầu thai đi đâu, không ai rõ.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

THẰNG LÀM BIẾNG GẶP THỜI



Có thằng làm bíêng nọ không cửa, không nhà, nằm trên bè tre mà ngủ. Bỗng đâu, có con cá nhảy lên trên bè. Nó bắt con cá nọ, lấy tay gỡ vảy cá. Vì làm biếng, nó đái lên cá nọ cho sạch nhớt thay vì thò tay xuống sông rửa cá. Xong xuôi, nó thảy con cá nọ lên bè mà phơi khô.

Lúc đó co con quạ bay ngang qua, xớt con cá khô nọ đem về vườn Ngự Uyển. Công chúa thấy cá, bèn sai thị tỳ nướng để nàng ăn thử. Dè đâu, công chúa thọ thai, sanh được đứa con trai ngộ nghĩnh.

Vua cha tức giận, nhốt công chúa vào ngục, nhưng sau rốt vì quá thương con nên thả công chúa ra và truyền rao lựa chồng cho công chúa. Bao nhiêu thanh niên văn hay võ giỏi tới xin ra mắt nhưng công chúa không ưng ai. Lúc đó, chiếc bè của anh làm biếng nọ trôi rề rề ngang đền vua. Đứa con của công chúa thấy vậy bèn kêu lên:

- Bè!... bè!... Ba!... ba ơi!

Vua cha bèn kêu bè ghé lại, hỏi sự tình. Tên làm biếng nọ trở thành phò mã.



THẦN LINH PHÒ HỘ



Cô gái nọ rất xinh đẹp, năm hai mươi tuổi mà vẫn chưa chồng. Mỗi ngày. cô mua nhang đèn đến miễu để cầu khẩn sao cho gặp một người chồng xứng đáng.

Tên bán nhang để ý, hằng ngày rình nghe sau bàn thờ thần nên biết đúng tâm sự cô nọ. Bữa đó, sau khi cô khấn vái, hắn ta núp dưới bàn thờ mà nói:

- Ta là thần đây, số phận của con là ưng tên bán nhang nọ. Mai sau, nó được làm vua, con sẽ được vinh hiển.

Cô gái nọ nài nỉ:

- Con không thể nào ưng anh bán nhang được. Anh thô tục quá.

Có tiếng trả lời:

- Nếu con không ưng, con bị móc mắt tức thời.

Vì quá sợ thần linh, cô nọ đến tìm anh bán nhang. Anh bán nhang làm bộ tỉnh táo, ban đầu từ chối, sau mới bảo cô nọ vào ngồi trong cái giỏ đựng nhang để anh quảy về nhà.

Dọc đường, gặp ông vua đi săn cọp. Tên bán nhang hoảng sợ, bỏ cái giỏ nọ mà chạy trốn. Vua nghe tiếng la hoảng hốt trong giỏ bèn ngừng kiệu lại. Biết đầu đuôi tự sự, vua thương tình đem nàng nọ về phong làm hoàng hậu. Thay vào đó, vua đem một con cọp vừa săn được bỏ trong giỏ y như cũ.

Chập sau tên bán nhang trở lại quảy giỏ về nhà. Hắn bảo mẹ đi chợ mua gà vịt về để làm lễ cưới cho hắn. Rồi hắn mở giỏ ra tìm cô gái.

Cọp trong giỏ nhảy ra giết chết hắn tức thì.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

CON NGỖNG CÓ MỒNG TRẮNG



Anh nọ dạo chơi ngoài vườn gặp một cái hang rắn. Mấy ngày đầu, anh thấy lúc rắn cái đang lột da trong hang thì rắn đực canh chừng và kiếm đồ ăn về cho vợ. Đến phiên con rắn đực lột da, rắn cái bỏ đi tình tự với con rắn khác.

Tức mình, anh giương cung bắn rắn cái nọ chết. Chừng mạnh mẽ, rắn đực nhìn được mũi tên nọ bèn đến tận nhà mà báo thù cho vợ.

Rắn ta nằm trên máng xối nghe anh nọ nói chuyện với vợ về sự bạc tình của con rắn cái nọ. Rắn bèn nhả ra một cục ngọc để đền ơn anh rồi bò đi mất. Đó là cục "ngọc nghe".

Nhờ cục ngọc đó, anh nọ có thể nghe được tiếng nói của loài vật.

Nghe tụi kiến lửa thì thào:

- Mai này có nước lụt, phải làm ổ trên đất cao.

Anh nọ bèn bảo vợ mau dọn nhà vì ngày mai có mưa to. Hôm sau đúng như vậy. Vợ anh rất khâm phục.

Bữa khác, anh đi lại nhà anh em bạn chơi. Bạn hết sức mừng rỡ mời lại ăn cơm.

Nhờ cục ngọc nọ anh nghe được mấy con ngỗng trong chuồng nói với nhau:

- Mai này mình chết hay tôi chết? Nếu tôi bị cắt cổ làm thịt, mình ráng ở lại nuôi con.

Quá cảm động, anh can gián chủ nhà, biểu dọn cơm dưa muối cũng được.

Vài năm sau, anh nọ chết. Mấy con ngỗng nhớ ơn cứu tử phen nọ nên để tang cho anh. Vì vậy mồng của con ngỗng trổ màu trắng.



SAO HÔM SAO MAI



Anh tiều phu nọ đến suối thình lình gặp một bầyTiên đang tắm. Tiên vội khoác quần áo bay về trời, còn sót lại một cô bay không được vì quần áo của cô bị anh tiều phu giấu.

Nhờ vậy, anh tiều phu bắt cô Tiên nọ đem về làm vợ. Anh giấu bộ quần sao nọ thật kỹ dưới đáy bồ lúa, sợ vợ thấy được, ăn cắp bay về trời.

Họ sanh được đứa con trai. Hôm nọ anh tiều phu vắng nhằm lúc ở nhà có người đến mua lúa. Khi xúc lúa tới đáy bồ, bộ xiêm y lòi ra. Vợ hết sức mừng, mặc vào rồi nói lại với đứa con:

- Mẹ đây cốt Tiên, không thể nào ở mãi dưới trần thế được. Con đừng buồn. Mẹ để lại cho con cái lược này làm dấu tích.

Dứt lời, nàng bay mất. Anh tiều phu về, hay được sự tình, ngã lăn ra khóc lóc, bất tỉnh nhân sự. Từ đó, ngày này qua ngày khác, anh dắt con ra suối tìm hình dáng người xưa.

Suối đó vốn thiệt là suối Tiên. Khi về được nơi tiên giới rồi, nàng Tiên nọ không dám trở lại nữa, nên sai Ngọc Nữ xuống múc nước thế cho mình. Bữa đó hai cha con anh tiều phu gặp hai cô gái đang múc nước tại suối. Anh hỏi han tin tức nàng Tiên, hai cô trả lời không biết. Trong lúc nói chuyện qua lại, đứa con anh làm rớt cây lược vào trong hũ nước. Chừng đem hũ nước về tiên giới, nàng Tiên nọ nhận ra đó là chồng con mình đến suối để tìm. Nàng nói:

- Ngọc Nữ hãy đem cái khăn này xuống cõi trần, bảo anh tiều phu và đứa con nít bịt nó ngang đầu. Khăn phép này sẽ giúp họ đằng vân về đây.

Anh tiều phu làm y theo lời. Quả nhiên đến cõi Tiên gặp mặt vợ, Sau phút sum họp, nàng Tiên nói:

- Ta là Tiên, Chàng là khách tục, Hai ta không thể nào sum họp được. Hôm nay chỉ tạm gặp mặt nhau. Rồi đây phải từ biệt.

Nàng Tiên bèn thết tiệc rồi bảo chồng và con lên ngồi trên một cái trống lớn có cơm đem theo để ăn dọc đường. Trên này có dây thòng xuống. Khi nào đến mặt đất thì anh phải đánh trống lên để trên này biết chừng mà chặt đứt dây.

Trống nọ thả xuống tòn ten giữa trời. Bỗng nhiên có con quạ thấy đứa bé đang ăn cơm nên bu lại mổ vào cơm. Trống kêu lên "tung tung". Trên này, ngỡ là chồng và con đã xuống tới đất, nàng Tiên chặt đứt dây, hai cha con anh tiều phu nọ phải té xuống biển mà chết.

Từ đó, có sao Hôm và sao Mai mọc. Sao Hôm là anh tiều phu, sao Mai là nàng Tiên nọ. Họ không bao giờ gặp nhau. Đứa con trai thì hóa ra sao Đòn Gánh ở khoảng giữa mà ngóng cha trông mẹ.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

LA SƠN PHU TỬ



Cuối đời nhà Lê, ở huyện La Sơn xứ Nghệ An (nay là tỉnh Hà Tĩnh) có một nhân tài lỗi lạc đã từng được vua Quang Trung Nguyễn Huệ mời làm quân sư.

Đó là ông Nguyễn Thiếp.

Năm được hai mươi tuổi, cụ mắc bệnh điên. Về sau bệnh không còn, nhưng cụ đặt hiệu mình là Cuồng Ẩn (hoặc Điên Ẩn). Cụ thi đậu nhưng không thích làm quan, rút lui về tu tiên tại núi Thiên Nhận.

Nghe danh cụ, Nguyễn Huệ ba lần gởi thơ mời giúp việc nước, nhưng cả ba lần đều bị từ chối. Sau rốt, cụ chịu hiệp tác với nhà vua, khuyên vua ba điều:

- QUÂN ĐỨC: nghĩa là vua phải làm thế nào cho có đức.

- DÂN TÂM: nghĩa là làm thế nào cho dân ủng hộ.

- HỌC PHÁP: nghĩa là cách học hành kinh sử cho đúng đắn.

Năm cụ được sáu mươi tuổi, bọn Tôn Sĩ Nghị kéo quân Thanh tràn vào chiếm Thăng Long. Vua Quang Trung bèn xua binh ra Bắc. Lúc đi ngang Nghệ An, nhà vua bèn triệu cụ để hỏi:

- Nghe thầy tinh tường về khoa lý số lại hay về mưu lược. Nay Tôn Sĩ Nghị nó sang, thầy nghĩ chước nào?

Cụ Nguyễn Thiếp thưa rằng:

- Quân quý thần tốc. Người Mãn Thanh ở xa tới không biết rành tình hình nước ta. Vả lại chúng nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì trong vòng mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn thì khó lòng mà thắng chúng nó.

Vua Quang Trung nói:

- Phải, phải. Tôi nay ra Bắc Hà đánh nó cho chết. Tôi mà dẹp được giặc Tàu xong thì xin rước thầy ra dạy học. Tôi muốn khí dụng gì cũng chẳng mua của nước Tàu, người mình tự làm lấy mà xài.

Cu Nguyễn Thiếp thưa rằng:

- Chỉ có thuốc Bắc là phải dùng của Tàu mà thôi!

Quân Mãn Thanh phải tan vỡ ở Đống Đa. Về sau, vua gởi thơ cho cụ để cảm tạ:

- Tiên sinh đã chịu làm việc cho thiên hạ. Người xưa bảo: "Một lời nói mà dấy nổi cơ đồ". Lời Tiên sinh hẳn có thế thật.

Ý của vua Quang Trung là nhìn nhận cụ đã có công trong việc chiến thắng quân Tàu.

Cụ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp thọ được tám mươi mốt tuổi. Nay ở xã Nam Kim, tỉnh Hà Tĩnh còn ngôi mộ cụ.



BÃO LỤT NĂM THÌN



Ngày mười sáu tháng ba âm lịch năm Giáp Thìn, nhằm ngày một tháng năm dương lịch (1904), một trận bão nổi lên phá hại toàn cõi Nam Kỳ. Nhưng riêng hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công là chịu thiệt hại nặng nhất.

Ông Huỳnh Ngọc Liêng soạn một bài thơ nhắc nhở lại và ai điếu những người bị nạn. Sau đây xin trích vài đoạn:

Mỹ Tho trận bão thình lình,
Cơ trời xui khiến dân tình xót xa.
Giáp Thìn nhằm tiết tháng ba,
Sớm mai mười sáu trời đà mưa giông.
Tưởng là phong vũ bất đồng.
Chỗ này thì có, nơi không đâu chừng...


Dè đây là trận bão! Tháng ba mà có bão thì thật là kỳ!


Trên bờ sập hết cửa nhà,
Dưới sông xà lúp chìm đã lăn chiêng.
Ghe bầu, ghe cửa ngã nghiêng,
Ghe chài, đò dọc cũng khiên lên bờ.
Kẻ thời mất vợ bơ vơ,
Người thì con chết ngẩn ngơ đi tìm.
Mấy người bị bão ghe chìm,
Trong lưng không có một chiêm(*) theo mình.
Sáng ngày mười bảy bình minh,
Mấy người tị nạn đi xin mà xài...
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

... Chua thêm về trận bão năm Thìn... k:o


Đây là sự hư hao tại Mỹ Tho:


Trận này thiệt bão quá to,
Làm cho dân sự Mỹ Tho nghèo nàn.
Mấy cây dây thép ngã ngang,
Tòa bố, tòa án vôi tàn ngói bay.
Lò heo, lò gạch, tiệm may.
Bị giông sập tốc ngói bay còn sườn.
Cồn Rồng mấy cái nhà thương,
Để nuôi cùi ở, sập tường tan hoang.
Ghe dừa, ghe chuối, ghe thơm,
Cũng đều trôi hết phải ôm chịu nghèo.
Bang Chạnh thiệt quả vận to,
Nhà lầu mà sập hiểm nghèo lắm thay.
Quan phó nghĩ lại cũng may,
Bão rồi lầu sập sự may dị kỳ.
Đi hầu nào có hay chi.
Bồi liền lật đật chạy đi kêu về.



Ngoài đường phố trong cảnh thiệt hỗn loạn:

Bão rồi sàng ngó ra đường,
Người đi như thể Tần Dương hội đàm.
Người ta xúm xít ngoài Vàm,
Kẻ dành với vải, người ham vớt dù.
Nồi ơ, chén tộ, mái lu,
Con nít nó vác, bang bù nó khiên.



Ở đồng quê, tai nạn cũng không kém nhất là ở Cái Bè, Cả Công:

Dâu, xoài rụng hết còn chi,
Trầu cây thuốc lá bầm thì nát tan.
Miễu, chùa ngói tốc tan hoang,
Xoài, me trốc gốc té ngang hư nhà.
Còn mấy vựa lúa phú gia,
Nước vô linh láng, mộng đà đơm lên.



Miệt Gò Công, thiệt hại nhân dạng nhiều hơn hết, hơn năm ngàn người:

Vừa đi vừa ngó các đồng,
Trâu, heo, bò, ngựa tràn đồng sinh chương.
Tử thi xem thấy thảm thương,
Thây trôi như củi đào mương tấp vào.
Nhiều thây kéo bỏ xuống hào,
Dân làng lấp đất, người nào chẳng ghê.
Bốn làng mé biển dựa kề,
Nước dưng trôi chết chẳng hề còn đâu.
Xảy về tới chợ Cái Khâu,
Vào nhà nghe nói thảm sầu lắm thay.
Chị em mạng bạc chẳng may,
Chết trôi mười một, vớt nay một mình.


... k:o lc ma)
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

CÔ HỒN ĐỀN ƠN



Thuở xưa, ở Mỹ Tho có ông Bá hộ lòng dạ rất nhân từ. Ngày rằm tháng bảy, ông đốt nhang đèn bày ra bánh cúng, bánh cấp, mía, chuối để các cô hồn về hưởng. Cúng xong xuôi ông yên trí vô nhà nằm nghỉ.

Gần nhà ông, có một chòm mả hoang. Đêm đó, có anh bán dầu dừa đi lỡ đường, đến chòm mả nọ mà nghỉ lưng. Anh ta nghe thì thào như nhóm chợ, bọn ma quỷ bàn tán qua lại:

- Đồ ăn ngon quá, mấy anh dám ăn không?

- Ông Bá hộ có lòng tốt nhưng làm sao ăn được?

Tề Thiên Đại Thánh nói rằng bánh cúng không được tinh khiết. Hồi gói bánh, có con nhỏ đầy tớ rủi đứt tay, làm dính máu trong lá chuối gói bánh.

Anh bán dầu dừa biết đó là tiếng nói của cô hồn. Sáng hôm sau, anh ta lập tức đến nhà ông Bá hộ mà báo sự tình. Ông Bá hộ hết sức buồn bã, nghĩ thầm:

- Không lẽ mình rầy rà bọn đầy tớ!. Cách hay nhất là mình cáo lỗi quỷ thần, cúng lại lần thứ nhì.

Đêm sau, cúng xong, ông Bá hộ nhờ anh bán dầu dừa ra ngoài chòm mả hoang nghe ngóng tin tức.

Anh ta y lời, rình nghe bọn cô hồn bàn tán:

- Thất bại nữa! Phen này tụi mình chết đói. Hồi hôm quá lá chuối dính máu. Bữa nay thì nấu bánh bằng củi ô uế ở chuồng heo...

Anh bán dầu dừa trở lại thuật cho ông Bá hộ hay. Ông này buồn bã, hỏi lại thì rõ ràng bọn gia nhân đã lấy mấy khúc củi chuồng heo mà chụm lửa nấu bánh.

Ông Bá hộ đến chùa gần đó, nhờ nhà chùa cúng dùm, như vậy bảo đảm hơn.

Cúng xong, anh bán dầu dừa cũng ra chòm mả nghe ngóng. Nhưng lần này anh ta dạn dĩ hơn lên tiếng trước:

- Cô hồn các đảng ơi! Cúng như vậy ăn được không?

Cô hồn mừng rỡ nói:

- Được! Được! Ông Bá hộ có lòng tốt, trì chí lo lắng chu đáo miếng ăn cho tụi tôi. Anh về nói với ổng: Chứng một trăm ngày nữa chúng tôi đền ơn ổng một vật xứng đáng.

Sẵn có máu tham, anh bán dầu dừa không thuật lại điều ấy cho ông Bá hộ biết. Anh giả đò xin cất chòi kế bên cửa ngõ của ông Bá hộ. Rồi anh ta sống nương náu chờ ngay mà cô hồn đã hứa. Rình mãi không thấy gì, anh ngã lăn ra ngủ thiêm thiếp. Gà gáy sáng, bừng mắt dậy thì rõ ràng có ba cái lu lớn đặt trước cửa ngõ từ hồi nào. Mỗi lu đều có một con rắn hổ quấn chung quanh. Trong lu toàn là vàng thoi, bạc nén. Anh ta thò tay vào lu. Tức thì bao nhiêu vàng bạc đều hóa ra hàng trăm con rắn, đen thui, bò lúc nhúc. Hoảng sợ, anh rút tay ra. Vàng bạc hiện trở lại y nguyên. Lúng túng, anh ta không biết xử trí ra sao. Ông Bá hộ bước ra cổng, thấy vậy bèn sai gia nhân khiên vàng bạc vào nhà.

Để đền ơn anh bán dầu, ông Bá hộ tặng cho hai thoi vàng, hai nén bạc. Cầm trên tay, anh ta mừng quýnh vì vàng, bạc không hóa thành con rắn nữa. Anh ta ra đi, cười hát nghêu ngao rồi vô quán rượu say sưa.

Tỉnh rượu thì hai nén bạc, hai thoi vàng đã bị người khác ăn cắp từ hồi nào.



BÔNG THỦY TIÊN



Ở Bắc phần Việt Nam, Thủy Tiên là một thứ bông quý, nở vào dịp Tết. Nó giống như củ hành tây. Đó là tặng vật của thần thánh ban cho loài người.

Ông Bá hộ nọ chết sớm, để lại hai đứa con trai. Con cả tánh tình hung hăng, thường hay hiếp đáp đứa em. Đứa em này yếu đuối, khờ khạo.

Cha chết, gia tài lọt trọn vào tay con cả. Hắn không chia gia tài cho em, lại còn bắt đứa em làm công việc trong nhà như đầy tớ. Đứa em thua buồn trốn ra đi.

Đến nơi đó, đứa em gặp một ao nước trong veo. Nó ngồi than thở hồi lâu, toan bề tự tử. Chợt nhìn bên bờ ao có một ngôi miễu xưa, nó bước lại, lau chùi bàn thờ, quét sạch nền miễu rồi xa ba xá, bước ra.

Trời đổ bóng chiều. Đứa em thở dài, cảm thấy cuộc đời mình sắp tàn. Nó bước xuống ao. Nước dâng lên ngập đầu gối, rồi ngập lưng quần, ngang ngực... Bỗng đâu, một ông lão tiên phong đạo cốt hiện ra, níu áo nó lại:

- Tại sao cháu hủy mình.

Nó trả lời, thuật lại hoàn cảnh nghèo nàn.

Ông lão nói:

- Không sao đâu, lão giúp cháu.

Dứt lời, ông lão hóa phép. Khắp ao nước mọc lên một thứ bông trắng muốt, hương thơm ngào ngạt.

Nó hỏi:

- Ông là ai?

Ông lão nói:

- Ta là Thủy Tiên, ông tiên ở dưới nước. Hồi nãy ta hết sức cảm động vì tấm lòng thành của cháu, cháu săn sóc miễu ta bên bờ ao. Từ rày, cháu ráng trồng tỉa giống này, đem ra chợ bán thì ắt no cơm ấm áo.

Dứt lời, ông lão biến mất. Từ đó, bông Thủy Tiên ra đời, bán giá cao. Đứa em nọ trở nên giàu có. Người anh cả gian ác kia vì ganh tị với em mà ốm o gầy mòn rồi chết yểu.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ÔNG THẦN XÃ ĐÌNH LẬP



Thời Bắc thuộc, nhiều lần dân chúng nổi lên chống ngoại xâm. Vào khoảng thế kỷ thứ 10, quan Châu nọ khởi nghĩa thất bại, vợ và con chạy thất lạc.

Đứa con lớn lên học võ nghệ tinh thông để báo thù cha. Đang đi trên núi, thình lình gặp con Long mã. Long mã hiến cho nó một cái càn khôn quyện, đeo vào cổ thì ra trận bá chiến bá thắng.

Quân Tàu đại bại liên tiếp mấy trận, tập trung binh mã để đối phó. Rủi thay, đứa con nọ bị bao vây, chạy dài. Quân Tàu đuổi theo kịp, chém đứt đầu, cái càn khôn quyện văng ra ngoài.

Trong khi đứa con đứt đầu té xuống, thần Long mã hiện ra, lượm cái đầu dặt lại vào cổ của đồ đệ mình và nói:

- Con chưa chết đâu. Con hãy mau mau chạy về. Dọc đường gặp ba người đầu tiên thì con hỏi: "Tôi sống hay chết". Nếu họ nhìn sắc diện của con rồi nói rằng con còn sống thì tánh mạng của con chưa đến nỗi nào.

Đứa con vâng lời. Trước tiên, gặp một ông lão. Hỏi thì ông trả lời:

- Đừng hỏi bậy. Anh còn sống nhăn chớ chết hồi nào.

Gặp một người thứ nhì, người ấy đáp:

- Nhất định anh còn sống. Nếu chết thì làm sao mở miệng nói chuyện được.

Đứa con nọ mừng quýnh, chạy về nhà, gặp mẹ. Hỏi thì bà mẹ khóc lóc mà nói:

- Con chết thiệt rồi. Con đừng hiện hồn về nhát mẹ. Nếu con còn sống thì cái càn khôn quyện còn đeo trong cổ. Đằng nầy, nó đẫm máu, có người lượm được đem về cho mẹ đây.

Dứt lời đứa con thất sắc, tay chân bủn rủn, té xuống chết.

Dân chúng trong nước thương tiếc vị nhân tài trẻ tuổi ấy. Sau này vua phong sắc thần.

Còn bà mẹ nọ thì thiên hạ nguyền rủa, cho rằng vì bà ta dại đột mà đứa con phải chết. Làng Đình Lập (tỉnh Móng Cáy) hằng năm cúng tế vị anh hùng này.

Có người nói rằng tích trên đây là tích ông Nùng Trí Cao đánh nhà Tống, về sau ông phải bại trận mà chết oan uổng.



HAI ÔNG QUAN THANH LIÊM



Ông Mẫn Công làm quan tuần phủ ở Hà Nam.

Lúc đi ghe, ông bị cướp kêu lại, ào qua lục soát của cải. Bọn cướp không thấy vật gì quý giá cả. Chúng lục tới lưng, ông Mẫn Công đem một sợi đai vàng ra mà nói:

- Ta nghèo lắm. Chỉ có món này là quý, bằng vàng của vua ban cho. Ngoài ra, ta không có của riêng.

Bọn cướp không nỡ lấy sợi đai.

Lại còn một ông quan khác tên là Trần Văn Khánh. Ông này về hưu trí đã lâu. Bỗng hôm nọ bọn cướp tới đánh phá. Ông Trần Văn Khánh nói:

- Đêm hôm tụi bây có công tới thăm tao. Ngặt tao không có vật gì xứng đáng. Trong rương còn năm ba bốn cuốn sách rách, tụi bây chịu khó lấy đỡ đem về cho con cháu nó học.

Bọn cướp bèn rút lui.

Hai câu chuyện trên đây lưu lại đời sau, cốt ý nêu lên đức thanh liêm. Hai ông quan này thanh liêm đến đỗi kẻ bất lương cũng phải động lòng.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

CON THỎ, CON CHIM NẮC NƯỚC, CON MUỖI



Ngọc Hoàng đòi các cầm thú đến trước bệ rồng.

Con chim nắc nước tâu:

- Trăm lạy bệ hạ, mình mẩy của con thì lớn mà hai chân thì nhỏ xíu như chân nhang. Con e rằng ngày kia phải gãy chân.

Ngọc Hoàng nói:

- Không hề gì. Chừng nào chân của con bị gãy thì ta thay cho cặp chân khác.

Vì vậy, con chim nắc nước luôn luôn nhún mình xuống thử cho hai chân gãy để thay cặp chân khác to hơn. Nhưng ngày qua tháng lại, cặp chân không gãy, chim phải mang thêm thói quen không đẹp mắt.

Con thỏ tâu:

- Miệng của con nhỏ quá. Xin bệ hạ ban cho con một cái miệng rộng hơn.

Ngọc Hoàng bèn gọi con thỏ đến, lấy dao cắt hai bên mép cho miệng rộng thêm.

Vì vậy, miệng con thỏ còn hai lằn thẹo ấy.

Đến lượt con muỗi bay tới, than phiền với Ngọc Hoàng:

- Muôn tâu bệ hạ, da thịt của con người quá dầy mà cái vòi của con thì nhỏ mà vắn. Như vậy hút máu chậm quá lâu no.

Ngọc hoàng nói:

- Ta ra lệnh cho thiên hạ giúp con, đè cái vòi của con xuống cho thật mạnh.

Con muỗi khoái chí bay đi kêu vo ve. Đến chừng châm vòi hút máu thì hỡi ôi! Bàn tay của con người đập mạnh xuống con muỗi như giúp con muỗi chích sâu vào thịt. Vì vậy con muỗi đành tử nạn.




RỤNG LÔNG VỊT



Ông lão nọ sống đủ ăn, tánh tình hiền lành nhân đức. Đằng xóm có tên bất lương nọ lén ăn cắp của ông một con vịt.

Về nhà, sau khi ăn thịt con vịt ấy, mình mẩy của tên trộm nọ trở nên ngứa ngáy khác thường, lông vịt mọc lú ra khắp cả châu thân.

Biết là thánh thần quở phạt, tên nọ ngày đêm cầu khẩn. Thần nhân hiện về báo mộng rằng:

- Mi phải lại nhà ông già nhân đức nọ, xin ổng chửi mi một tiếng, tức thì lông vịt sẽ rụng hết.

Trời hừng sáng, tên nọ đến tìm ông lão mà nói trớ rằng:

- Tôi nghe nói ông mất một con vịt. Thằng ở nhà kế bên tôi ăn cắp. Nếu ông chửi một tiếng thì nó hoảng sợ, đem lại trả liền.

Ông lão nói:

- Mất còn, còn mất cũng không sao. Hơi đâu mà chửi cho mệt, không có bằng cớ, thêm mang tội.

Túng cùng, tên ăn trộm bèn khóc lóc, nói sự thật:

- Nếu ông không chửi thì tôi đau đớn khó chịu lắm, lông vịt mọc cùng mình.

Ông lão động lòng chửi một tiếng. Tức thì mình mẩy tên nọ trơn như cũ.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ĂM MÀY XIN VÀNG



Phú ông nọ giàu có nhất trong vùng nhưng rất hà tiện. Bao nhiêu vàng bạc, ông dấu cất trong nhà, không đem bố thí cho một ai.

Hôm ấy, có lão ăn mày đến năn nỉ phú ông mà xin cho kỳ được một nén vàng. Phú ông quát tháo, sai người đuổi đi. Nhưng lão ăn mày vẫn lỳ gan trở lại xin vàng, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.

Rốt cuộc, phú ông cho lão nọ một nén rồi sai người đầy tớ đi theo rình.

Ban đầu lão ăn mày mừng rỡ, cười hí hởn. Nhưng đến khoảng đất trống, lão đặt nén vàng bên mình rồi ngủ khò. Tên đầy tớ bèn lén lại gần ăn cắp nén vàng nọ đem về cho chủ. Hôm sau, lão ăn mày trở lại nhà phú ông mà xin vàng như cũ.

Phú ông nói:

- Hôm qua tôi cho ông một nén, đâu rồi?

Ông lão ăn mày vuốt râu mà trả lời:

- Tôi để nó kế bên mình. Nhưng khi tôi vừa nhắm mắt thì nó cũng biến mất. Bởi vậy tôi trở lại.

Phú ông suy nghĩ về câu nói của ông lão ăn mày, hiểu rằng khi nhắm mắt chết thì sự nghiệp không còn gì hết. Ông bèn đem vàng bạc dùng vào việc phước thiện.

Gặp những người trọng tuổi, phú ông thuật lại chuyện lão ăn mày nọ. Ai nấy đoán rằng: không chừng lão ấy là Tiên trá hình để răn đời.




ANH BÁN VẢI



Anh bán vải nọ đi ngang qua một kiểng chùa xiêu vẹo, hoang tàn. Anh ngồi than thở, cảm thấy có tội lớn đối với Phật Trời.

Trong chùa có tên ác tăng rình nghe được. Hắn bàn tán với anh bán vải:

- Anh nên giúp của để tu bổ chùa này.

Anh bán vải mừng rỡ bằng lòng giúp một số tiền. Đêm đó, tên ác tăng thết tiệc rồi nói:

- Anh phải làm phước cho trọn. Cần tu bổ tất cả kiểng chùa này, từ chánh điện tới hậu liêu, sửa lại cửa tam quan, đúc chuông mới.

Anh bán vải hoảng hồn:

- Tôi nghèo lắm, một mình làm sao gánh vác nổi sở phí. Bây giờ có bao nhiêu vàng bạc trong mình, tôi xin cúng hết.

Tên ác tăng nọ không chịu. muốn lấy tất cả số vải của anh nọ và giết anh ta luôn để phi tang.

Anh bán vải nài nỉ, khóc lóc xin tha tội. Sau rốt, tên ác tăng bằng lòng cho anh bán vải tự thắt cổ.

Lúc ấy tình cờ có ông quan đi ngang chùa. Chợt thấy một đứa con gái bận quần đỏ chun theo lỗ vách tường mà vào chùa, ông quan hồ nghi chuyện lạ, dừng ngựa lại, ra lệnh cho quân hầu đuổi theo... Vào chùa, chợt thấy hai cái phòng đóng kín mít, ông quan yêu cầu mở gấp. Tên ác tăng cản lại:

- Bẩm thượng quan, trong phòng có quỷ.

Vị quan nổi giận, phá cửa, gặp một người đang thắt cổ ngất ngư. Chừng cứu lại sống được, anh bán vải bày tỏ đầu đuôi. Vị quan mới hiểu người con gái lạ thường khi nãy là điềm trời Phật giáng xuống cứu người lương thiện. Tên ác tăng bị chém đầu. Anh bán vải và vị quan hiệp cùng dân địa phương góp công, góp của tu bổ kiểng chùa ấy thịnh vượng.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

TÍCH CON CHIM HÍT CÔ



Năm đó trời hạn, ruộng nương mất mùa, cả làng phải đói kém. Hai cô cháu nọ sống kham khổ, nương tựa nhau. Còn dư một nắm đậu, họ đem luộc chín rồi ngậm mà nuốt nước cho đỡ đói. Cô ngậm xong thì nhả ra cho cháu ngậm. Cứ như vậy, thay phiên nhau. Lần lần, mấy hột đậu này mòn tan ra. Lần chót, đứa cháu ngậm hột đậu cuối cùng, rủi hột đậu chạy vô miệng mất luôn. Người cô đành chịu đói mà chết.

Qua những năm đó, gió mưa trở lại thuận hòa, cây trái xum xuê. Đứa cháu hóa thành một con chim, tối ngày nhảy nhót mà tìm hình ảnh của người cô chết đói năm trước. Nó gọi cô nó về để chung hưởng những hoa quả: "Hít cô!", tức là gợi lại chuyện ngậm nuốt hột đậu cho đỡ đói.




TÍCH CHÙA LONG GIÁNG



Ở tỉnh Bắc Ninh, chùa Long Giáng là một nơi thắng cảnh. Tục truyền rằng đời vua Lý Nhân Tôn, Ngọc Hoàng muốn nhắc nhở nhà vua tu thân theo đạo Phật. Bấy lâu nay vua quá bê bối về việc nước.

Ngọc Hoàng khiến một nàng tiên nga giáng xuống đầu thai, lấy tên là Văn Khôi công chúa. Lớn lên công chúa nhan sắc lộng lẫy. Vua Lý Nhân Tôn bèn truyền rao kén phó mã, công chúa bực mình, lén trốn ra khỏi cung điện, tìm đức Cao Huyền hòa thượng mà quy y.

Hay tin ấy, vua cho quan quân rước công chúa về. Công chúa không chịu. Vua nổi giận, ra lệnh đốt chùa để giết công chúa luôn. Nhưng bỗng nhiên có con rồng vàng hiện ra phun nước chữa lửa.

Nhà vua tỉnh ngộ, ăn chay nằm đất để tạ tội và xuất của kho tu bổ ngôi chùa ấy. Mãi đến ngày nay, chùa lấy tên là Long Giáng để ghi nhớ điều ấy.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ÔNG VU CÔNG TRỪ TÀ



Ông Vu Công là người võ giỏi. Năm ấy, đến kinh đô ứng thí, bỗng nhiên đứa tiểu đồng của ông thọ bệnh. Nghe đồn có tên thầy bói ở gần, ông đến đặt quẻ. Thày bói nói:

- Mạng của tên tiểu đồng thì không sao. Ngặt mạng của ông rất nguy hiểm, không biết lo thì chết trong ba ngày nữa.

Ông Vu Công hỏi:

- Có phương nào cứu được không?

Thầy bói dáp:

- Đặt cho tôi mười quan tiền, tôi làm phép dùm cho.

Ông Vu Công tức mình, đoán rằng tên thầy bói bày đặt chuyện để ăn tiền. Ông về nhà mà chờ.

Hai ngày đầu, không chuyện gì xảy ra. Vài người bạn can gián, ông trả lời: "Sống chết do mạng trời. Tôi sẵn sàng ăn thua với tên thầy bói này". Đêm thứ ba, ông ngồi chong đèn. Chừng nửa đêm, nghe tiếng động ngoài cửa. Chập sau, thằng nhỏ vác giáo bước tới. Ông Vu Công cầm cây gươm chém mạnh. Dòm kỹ lại, rõ ràng một hình nhân bằng giấy.

Một hồi nữa, có con quỷ dạ xoa cầm xà mâu chạy sấn lại đòi đâm. Ông Vu Công múa gươm chém nghe một cái "rổn". Rõ ràng là miểng chén, miểng cà ràng bể. Ông liền bắt ghế lại gần cửa mà rình cho tới đầu canh năm. Trong bóng tối, rõ ràng một dị nhân tay cầm cung tên, nhắm ngay ông mà xạ. Ông chém trước, tên nọ ngã lăn, hoàn lại một hình bằng cây.

Qua bữa sau, ông Vu Công thuật chuyện đã xảy ra cho bạn bè hay biết rồi rủ nhau tới nhà tên thầy bói hôm trước. Tên thầy bói ngượng nghịu như chó ăn vụng bột. Ông Vu Công nói:

- Tên bất lương này sai âm binh khuấy rối ta để ăn tiền. Phải bắt nó.

Bạn bè khuyên ông dùng máu chó mà trị kẻo tên này tàng hình. Máu chó rảy xung quanh nhà, tên thầy bói chịu phép, bị bắt trói đem nộp quan trên.




CON CỌP VÀ CẬU HỌC TRÒ



Cậu học trò đi dạo chơi trên núi bỗng gặp một con cọp mắc bẫy.

Cọp ta vùng vẫy la hét, kêu cứu rằng:

- Tôi rủi lâm nạn, cậu làm ơn gỡ bẫy dùm. Tôi đền ơn xứng dáng, hằng ngày vác heo rừng, vác nai lại để cậu làm tiệc. Trong rừng ngày còn nhiều hột ngọc quý giá mà bấy lâu nay tôi chôn dấu dưới đât. Hễ được tự do thì tôi đào lên dâng cho cậu.

Cậu học trò nọ vui mừng, phần thì muốn ra tay nghĩa hiệp, phần thì muốn được của cải quý báu nên tháo bẫy ra dùm.

Cọp được tự do, đi khoan thai trước mặt cậu học trò rồi nghiêm nét mặt:

- Tao đói bụng quá, phải ăn thịt mày mới được.

Cậu học trò cãi lại. Cọp không nghe. Xảy đâu một ông Tiên hiện ra, tay cầm phất trần chỉ ngay con cọp mà nói:

- Không được hỗn láo. Chuyện đâu còn đó.

Biết là Tiên giáng trần, cọp quỳ xuống mà nói:

- Thưa ngài, cậu học trò này phá tôi.

Ông Tiên nói:

- Bây giờ, cọp cứ yên lòng trở vào bẫy như cũ. Cậu học trò này phá bẫy như thế nào, để ta xét trị tội nó.

Dứt lời, cọp đi trở lại vào bẫy. Ông Tiên gài bẫy lại rồi nói với cọp:

- Chuyện đâu còn có đó thì ta để đó. Mi ráng ở đây mà chịu chết.

Rồi ông nói với cậu học trò:

- Cậu có lòng nhân đạo. Từ rày sắp tới phải cẩn thận. Có lòng nhân đạo mà cũng phải có trí mới được, đừng nhẹ dạ nghe lời kẻ ác tâm.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

TÊN TRỘM VỊT



Tên nọ lười biếng, không chịu làm lụng nhưng có tật muốn ăn ngon. Hôm đó đi qua làng bên cạnh, thấy một con vịt mập đang đứng ngủ bên bờ ao. Ban ngày, nếu ăn cắp thì khó lòng chạy trốn được. Nghĩ vậy nó đến quỳ mọp trước mặt con vịt, hai tay chấp lại, miệng khấn vái lâm râm.

Chủ nhà lấy làm lạ, chạy ra hỏi:

- Chú kia! Tại sao quỳ lại con vịt như vậy? Tội chết! Hay là chú điên rồi?

Tên nọ ngước mặt lên và thưa:

- Nói dấu chi ông, hồi tối này tôi nằm chiêm bao thấy cha tôi về. Cha tôi nói bữa nay sẽ nhập hồn vô xác con vịt tại xóm này, bờ ao này. Vì tình phụ tử tôi tìm đến đây, quỳ trước con vịt này mà nhớ vong hồn cha.

Chủ nhà nghe nói, động lòng, bèn cho con vịt. Anh nọ mừng quýnh đem vịt trở về nhà. Chủ nhà nom theo, thấy anh ta bắt nước sôi cắt cổ, nhổ lông con vịt nọ.

Chủ nhà hỏi:

- Sao chú đành nhẫn tâm giết nó. Nó là hồn của cha chú, chú nói hồi nãy.

Tên nọ trả lời:

- Tôi làm phép, cầu hồn cho cha tôi xuất ra khỏi xác con vịt rồi. Bây giờ tôi ăn cái xác này.

Anh chủ nhà tức giận vô cùng, biết rằng mình mắc mưu tên bất lương.




CHUYỆN THẦY THÍM



Xưa kia, ở đất Quảng Nam có hai vợ chồng tên Lánh. Họ tu tiên tại làng Trà Luông, huyện Thăng Bình.

Lần lần thầy được nổi danh. Dân chúng cữ tên, gọi chồng là Thầy, vợ là Thím.

Hôm nọ thấy cái nhà việc đã hư hao. Thầy nói với hương chức làng:

- Để tôi cất lại dùm cái khác.

Ai nấy không tin, ngỡ rằng thầy nói chơi. Dè đâu đến nửa đêm, giông bão nổi ầm ầm. Lại nghe tiếng bao nhiêu thợ hò hét, đôn đốc cất cho mau cùng là tiếng đục, tiếng búa. Sáng ra ai nấy ngạc nhiên. Nhà việc làng đã sửa sang lại, xinh đẹp hơn trước.

Nhưng ở làng kế bên thiên hạ vô cùng bất bình vì trong đêm giông tố vừa rồi, cái nhà việc của họ bay đi đâu mất. Nghe tin đồn, họ qua làng Trà Luông để nhìn. Sau khi nhìn dấu tích, họ nhận ra: Trên vách tường của nhà việc xưa của họ có dấu vết của một dây trầu leo lên. Bây giờ nhà việc của làng Trà Luông cũng có dấu tích ấy. Họ đem đơn kiện lên quan trên.

Bộ Hình ngoài Huế lên điều tra, sai người vào làng Trà Luông. Hương chức làng nói:

- Chúng tôi không ăn cắp của ai. Nếu có tội thì kẻ thủ phạm là Thầy với Thím.

Tức thời, hai vợ chồng Thầy Thím bị bắt. Quan trên tuyên bố xử tử. Hai vợ chồng của Thầy xin đình lại bản án mà rằng:

- Chúng tôi muốn truyền lại cho nước Nam mình một bảo vật.

Theo lời yêu cầu của Thầy và Thím quan trên sai người đem lại một vóc lụa dài, viết lông và mực tàu. Thầy bèn vẽ một con rồng, khúc đuôi vẽ trước. Chừng vẽ xong khúc đầu rồng, Thầy dùng một bó nhang mà khấn vái rồi vẽ hai con mắt. Sau khi điểm nhãn, rồng nọ bay bổng, hai vợ chồng thầy cỡi lên đó mà trốn.

Đến Nha Trang, vợ chồng Thầy Thím xin ở đậu tại nhà của một bà lão tên là bà Xuổi. Thầy có treo một bọc vải, ở trong toàn là đậu. Thầy căn dặn không cho ai dòm trong bọc ấy.

Dè đâu, đứa cháu của bà Xuổi có tánh tò mò. Hôm nọ, nghe tiếng thì thào trong bọc vải nọ, đứa cháu lén mở ra. Tức thì bao nhiêu binh tướng hiện ra cầm khí giới bao vây đứa cháu nọ. Nó la hoảng, Thầy Thím hay được, trở về hô phép. Các binh tướng rút trở lại vô hột đậu trong bao.

Ngày mùng năm tháng giêng năm đó, vợ chồng của thầy đều tịch diệt. Quan trên ra lệnh dùng dây sắt mà xiềng mả của vợ chồng. Dè đâu ban đêm, voi trong rừng chạy ra, phá vòng xiềng.

Biết đó là một vị Thần, vua phong sắc cho hai vợ chồng. Thầy được phong là Chí Đức tiên sanh chi thần. Thím được phong là Chí Đức nương nương.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

NỮ ANH HÙNG BÙI THỊ XUÂN



Sau khi thâu phục được sơn hà, vua Gia Long ra lệnh xử tử vua Tây Sơn (Quang Toản) cùng các vị tướng lãnh của Tây Sơn như quan Thiếu phó Trần Quang Diệu và vợ là Bùi Thị Xuân.

Trần Quang Diệu bị tội lột da.

Kế đến lượt đứa con gái của Trần Quang Diệu. Đứa con gái ấy mới chừng mười lăm tuổi. Khi thấy voi tiến tới quất giết mình, đứa gái la hoảng:

- Mẹ ơi! Cứu con.

- Chân tay của mẹ bị trói hết rồi không phương nào cứu được. Con hãy vui lòng mà chết luôn với mẹ cha, còn hơn là sống với bọn này.

Con voi quơ vòi, cuốn đứa con gái, quăng lên trời rồi đưa hai ngà ra hứng. Hai hần như vậy, đứa con gái chết hẳn.

Bà Bùi Thị Xuân không thay đổi sắc mặt. Bà bước tới trước con voi nọ. Bọn đao phủ ra lệnh cho bà phải quỳ xuống để con voi dễ quấn.

Bà không tuân lệnh, cứ bước tới như hăm dọa. Con voi thối lui. Bọn đao phủ phải cầm gươm đâm voi nọ, chọc tức. Voi bước tới quấn bà, thảy lên rồi đưa hai ngà ra hứng. Nhìn xác của bà, ai nấy đều khâm phục. Bà dùng lụa mà quấn sẵn chung quanh ngực, bụng, bắp vế. Lớp quần áo ngoài tuy rách nát nhưng bà không lõa lồ chi hết. Bà đã đoán trước cực hình này đôi ba ngày, nên đã chuẩn bị thân thể trước.

Bùi Thị Xuân là một nữ tướng can đảm đã từng chống giữ lũy Trấn Ninh.

Nay ở Sài Gòn có tên đường Bùi Thị Xuân để kỷ niệm gương can đảm, tiết liệt của bà.



THẦN PHẠM NHĨ HÓA RA CỌP



Ngày xưa, trên Thiên cung có một vị thần tên Phạm Nhĩ. Theo chữ Nho, Phạm Nhĩ tức là lỗ tai rách.

Phạm Nhĩ rất hung hăng, tham quyền cố vị toan soán ngôi Ngọc Hoàng. Ông ta quy tụ binh mã, đánh đâu thắng đó, hễ bắt được kẻ thù là ăn gan uống máu lập tức.

Thấy Phạm Nhĩ đại náo Thiên cung, Phật Bà Quan Âm bèn hạ lệnh cho ông Chuẩn Đề đem binh tới trừng trị. Nhưng ông Chuẩn Đề đại bại. Phật Bà liền hóa phép thần thông, đuổi được Phạm Nhĩ, bắt đày ông ta xuống trần gian, hóa kiếp ra con cọp.

Để đề phòng ông Phạm Nhĩ trở lại Thiên cung báo thù, Trời Phật cắt đôi cánh của Phạm Nhĩ không cho ông ta bay.

Vì là thú vật, Phạm Nhĩ rất hung hăng. Nhưng nhờ cốt thần hồi kiếp trước nên trong giấc ngủ Phạm Nhĩ có thể nghe biết những ai nói xấu ông ta mặc dầu cách xa ngàn dặm. E rằng Phạm Nhĩ thù vặt, Phật Trời khiến Phạm Nhĩ gặt lỗ tai khi thức giấc, nhờ vậy mà không còn nhớ gì cả.

Để an ủi Phạm Nhĩ, Phật Trời ban cho ông ta chức chúa sơn lâm.

Nhiều người nói rằng cọp không ăn thịt người nào họ Phạm (vì trùng một họ với cọp).

Ở nhiều làng mới khai phá, cọp thường được dân chúng phong chức Hương Cả. Hằng năm, khi cử hương chức làng, cọp trở lại miễu để lãnh tờ cử mới.

Ở ngoài Bắc, cọp được gọi là ông Ba Mươi.

Sự tích là hễ ai săn được một con cọp thì làng xã thưởng cho ba mươi quan tiền. Đồng thời cũng đánh anh thợ săn nọ ba mươi hèo để vong hồn của cọp được thỏa mãn.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 17 Tháng 4 2010

ĂN TRẦU NGẮT ĐUÔI



Thuở ấy, ở xóm kia có chàng thanh niên và cô thiếu nữ rất xứng đôi vừa lứa. Cha mẹ của đôi bên đều bằng lòng kết tình thông gia nhưng chưa nói cho con mình biết.

Vì quá yêu nhau, hằng đêm cô thiếu nữ lén mở cửa phòng rước cậu trai vào tự tình. Mãi đến gà gáy hừng đông, cậu trai mới ra về. Cứ như vậy ngày này qua tháng kia.

Buổi tối, trước khi về, cậu trai ao ước được ăn một miếng trầu. Nhìn trong khay thấy hết trầu, cô thiếu nữ liền chạy ra vườn hái một lá đem vô, têm vôi, mời chàng. Dè đâu miếng trầu nhai chưa dập là chàng nọ ngã lăn, trào đờm rồi chết. Hoảng hốt, nàng tri hô lên. Quan làng chạy lại khám xét tử thi, thấy nhiều đốm đỏ loang khắp mình.

Thế là cô nọ bị bắt giam để xét hỏi về tội bỏ thuốc độc giết người. Cô cứ một mực kêu oan. Cuộc tra tấn kéo dài, lần lần cô trở nên ốm o gầy mòn, gần chết trong ngục.

May sao, có ông quan Án đi qua. Quan Án hỏi cô:

- Đầu đuôi tự sự như thế nào? Mi phải khai rõ rệt.

Cô nọ nói sự thật. Nghe xong, vị quan suy nghĩ, gật đầu. Ông đi ra ngoài vườn xem kỹ lưỡng từng lá trầu trên nọc. Ông chú ý: ở mấy lá sát gốc đều dính một chất gì nhớt ngay chót đuôi lá, giống như là con ốc, con sên bò qua nhả nước miếng.

Nhưng không thấy con ốc, con sên nào cả!

Ông quá tức trí, ra lệnh đào dưới đất, ngay nọc trầu. Đào xuống thật sâu, bỗng nghe tiếng khè khè. Rõ ràng là con thuồng luồng nằm khoanh trong hang. Dân chúng chạy tứ tán.

Ông quan nói:

- Con thuồng luồng này hằng đêm lén bò lên mặt đất để kiếm nước uống. Vì quá khát nước, nó phải liếm mấy giọt sương mù ở chót đuôi mấy lá trần gần dưới đất. Nọc con thuồng luồng dính lại trên lá nên gây chết người. Cô gái này bị hàm oan.

Chòm xóm nhìn nhận lời vị quan nọ là chí lý, tài trí như Bao Công thuở trước. Từ đó về sau, trước khi têm trầu, ai nấy đều ngắt chót đuôi lá vì sợ nọc con thuồng luồng. Bây giờ giống thuồng luồng không còn, nhưng thói quen của con người hãy còn.




KÉP HỨA VĂN HÁT BỘI



Hồi quan Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt ngồi trấn Gia Định, đất Sài Gòn hưởng an lạc thái bình.

Quan Thượng nổi danh là nghiêm khắc, có quyền tiền trảm hậu tấu.

Ngài thích vui, xem người đấu cọp, xem đá gà và nhất là xem hát bội. Ngài lập gánh hát riêng cất rạp riêng. Khi hát, thường thường là ngài cầm chầu.

Đêm nọ, diễn tuồng Võ Thành Lân, kép Hứa Văn thủ vai chánh, vai một trung thần bị bọn phản nghịch rượt chạy. Con ngựa ô chạy tới bờ biển không phương qua được. Kép Hứa Văn hát nam rằng:

Ô mã qua miền hải ngạn,
Công (của) Tiên Hoàng tỏ rạng dường non...


Bỗng đâu, có con cá lý ngư nổi lên rước. Kép bèn lên ngồi trên lưng cá mà hát rằng:

Vởn vơ cá lội như cờ... ho...


Quan Thượng Cộng giận lắm, cho rằng kép Hứa Văn hát trật nên gõ mạnh vào thành trống một tiếng "cắc". Cá làm sao biết ho được? Kép Hứa Văn hoảng hồn, biết rằng mình hát lỡ lời, khồn khéo lát nữa bị đánh đòn. Kép bèn giữ gương mặt trầm tĩnh, hát tiếng:

Ho...(vì) tưởng đâu ô mã, ai dè lý ngư...


Quan Thượng chầu liên tiếp ba bốn tiếng trống để khen tài của Hứa Văn. Ngài cười lớn:

- Hay quá! Tha tội, tha tội.

Ngày nay, lăng quan Thượng Công ở Bà Chiểu (Gia Định) có bàn thờ kép Hứa Văn. Âu cũng là xứng đáng với tài danh bất hủ của người nghệ sĩ tiền bối này!
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 19 Tháng 4 2010

TÍCH CÂY NHƠN SÂM



Theo Đông Y, nhơn sâm là vị thuốc bổ khỏe rất quý. Nhơn sâm là một loại củ nhỏ, có bốn cái rễ giống như hai tay, hai chân của con người. Thuở xưa ai uống nhơn sâm thì được trường sanh bất tử. Nhưng ngày nay nhơn sâm không còn linh nghiệm bằng hồi trước. Đó cũng bởi loài người nóng nảy, tham lam mà ra.

Ở ven rừng, có vợ chồng anh tiều phu nọ quá nghèo nàn. Mỗi buổi sáng khi đi hái củi, hai vợ chồng để đứa con nhỏ tuổi ở nhà với một chén cơm nhỏ xíu. Ngày qua tháng lại, đứa bé trở nên mập mạp, hồng hào. Vợ chồng anh tiều phu lấy làm ngạc nhiên:

- Con của mình ăn cực khổ, thiếu thốn mà sao lại mạnh khỏe không kém con nhà khá giả?

Làm sao hỏi được nguồn cơn? Đứa bé quá nhỏ nên chưa biết nói chuyện. Phải chờ vài năm sau mới nghe nó trả lời bập bẹ rằng:

- Ba má à, con không ăn cơm.

Vợ chồng lấy làm lạ:

- Sao vậy?

Đứa bé nói:

- Khỉ ở trong vườn chạy ra ăn cơm hết, con giành không lại...

- Nhưng mà tại sao con không đói bụng, cứ mập mạp hoài?

Đứa bé thuật lại rằng hằng ngày có một đứa bé khác ở trong rừng chạy ra làm quen. Hai đứa giỡn với nhau.

Vợ chồng anh tiều phu suy nghĩ: "Ở trong rừng này không có nhà của một ai, tại sao có con nít tới chơi. Phải rồi, chắc là... con nhơn sâm mà mình thường nghe nói. Nhờ hít hơi con nhơn sâm nên đứa con mình không ăn cơm vẫn khỏe".

Hôm sau, bán củi được bao nhiêu tiền, vợ chồng anh tiều phu đem mua một cuồn chỉ thật lớn. Về nhà, vợ chồng căn dặn đứa con:

- Trong lúc ba đi vắng, hễ thằng nhỏ đó lại đây chơi thì con buộc đầu sợi chỉ này vô chân nó, nghe chưa.

Đến trưa, vợ chồng trở về hết sức vui mừng, thấy đứa con mình làm đúng lời dặn. Vợ chồng bèn phăng theo sợi chỉ, đi len lỏi vào rừng mà tìm dứa nhỏ kia. Đến chỗ nọ, vợ chồng thấy sợi chỉ bị chôn dưới đất. Họ lấy cuốc đào lên, tìm đứa nhỏ tức là con nhơn sâm. Vì họ tham nên trì níu quá mạnh tay khiến nhơn sâm phải chết.

Từ đó về sau, nhơn sâm bớt linh nghiệm. Củ của nó ngày một hỏ xíu, lụn vụn, uống vô thì bổ khỏe chớ không giúp loại người được bất tử trường sanh.




RẮN GIÀ RẮN LỘT



Thuở tạo thiên lập địa mới vừa xong, Ngọc Hoàng ngự trên ngai, sẵn sàng nhận lời khiếu nại của vạn vật muôn loài.

Hôm ấy, tên Hơn lãnh trách nhiệm đại diện cho loài người đến trình bày rằng:

- Tâu Ngọc Hoàng, cớ sau ngài sanh loài người rồi đồng thời cũng sanh loài rắn. Rắn độc lắm, căn chết loài người trong tức khắc.

- Vậy thì nhà ngươi muốn ta tiêu diệt loài rắn hay sao? Như vậy hóa ra bất công. Chúng nó sẽ kêu nài.

Tên Hơn tâu:

- Chúng tôi không dám ước ao điều đó. Chỉ ước mong loài rắn đừng sống dai bằng loài người.

Ngọc Hoàng nói:

- Vậy thì dễ quá. Mi trở về trần gian truyền rao lời ta như vầy: "Người già người lột. Rắn già, rắn tột đầu săng".

Rủi thay tên Hớn không có trí nhớ dai, lại còn tật ăn nói lặp bặp. Về trần gian, anh ta la lên:

- Ngọc Hoàng truyền lệnh "Rắn già rắn lột. Người già người tột đầu săng".

Tột đầu săng có nghĩa là vô hòm. Vì lời phán bị sai lạc nên loài rắn lột da sống dai, hưởng được ân huệ của Ngọc Hoàng muốn ban cho loài người. Loài người tức giận, kêu rêu thấu đến Thiên Đình. Ngọc Hoàng bèn đòi tên Hơn mà mắng:

- Mày không nên thân! Dặn một đường, nói một nẻo, ngu quá!

Dứt lời, Ngọc Hoàng đạp tên Hơn. Anh ta té cuống đất, rớt ngay vào một đống phân, hóa ra con bọ hung, ăn đồ dơ dáy mà sống, bị người đời khinh bỉ.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 19 Tháng 4 2010

CON CÁ NƯỢC



Tuở xưa, ở thành phố nọ có người đàn bà gian giảo, sống bằng nghề bắt mối các ghe từ phương xa đến. Lắm người phải sạt nghiệp vì giọng đường mật của bà.

Hay tin có chuyến ghe hàng đến, bà lập tức đi tìm chủ ghe. Để tỏ lòng thành thật, bà mời chủ ghe lên nhà ăn cơm cho vui. Tàn buổi cơm bà nói:

- Trong nhà tôi còn vài món đồ quý. Là bạn thân thiết, đem ra cho anh xem thử.

Món đồ quý giá ấy là một nải chuối và một con rùa đúc bằng vàng ròng.

Người chủ ghe khen ngợi, ao ước những món ấy. Bà ta trả lời:

- Tôi không thể nào cho người ngoài được. Anh chị chịu phiền.

Đêm đó, ba ta lẻn đem nải chuối và con rùa vàng dấu dưới ghe của người khách nọ. Chừng hừng sáng, bà tri hô:

- Mấy món đồ quý trong nhà tôi mất hết rồi. Chắc chắn là mấy người dưới ghe này ăn cắp của tôi.

Chủ ghe cãi lại. Bà ta mời làng xã tới làm chứng. Hai đàng cam đoan như vầy: "Nếu bà ta khai gian thì tất cả tài sản của bà sẽ bị chủ ghe tịch thâu. Nếu chủ ghe ăn cắp thiệt thì bà ta sung công tất cả ghe hàng nọ, bắt chủ ghe làm tôi tớ".

Sau khi khám xét dưới ghe, chủ ghe chưng hửng vì mình không ăn cắp mà cớ sao mấy món đồ nằm trong ghe mình. Biết mình mắc mưu bà nọ, chủ ghe đành chịu cảnh phá sản.

Anh chủ ghe vô cùng tức giận. Sau khi suy nghĩ kỹ, bèn gởi thơ lén cho người vợ rằng: "Anh bây giờ nghèo nàn, bị làm tôi tớ cho người ta. Mình phải sắm chiếc ghe khác, chở đầy hàng hóa, trương buồm tới đây làm như vầy, như vầy..."

Nhận được bức thơ, người vợ làm đúng lời, sắm ghe chở hàng đem theo một người thợ bạc có mang sẵn ống bể, than, lò. Anh thợ này giả dạng là bạn chèo ghe.

Chừng đến chợ, bà "đầu nậu" gian tham ăn quen thói cũ, xuống ghe làm giá rồi mời khách lên nhà ăn cơm, đem con rùa và nải chuối bằng vàng ra khoe khoang. Đêm đến, bà ta cho người đem hai món đồ quý giá đó dấu dưới ghe của khách. Nhưng chủ ghe đã hay trước, giả đò không hay biết.

Chờ bà ta lên bờ, dưới này anh thợ bạc nghề, thổi ống bể lên, nấu chảy nải chuối và con rùa lại thành vàng nén. Xong xuôi anh này thảy đồ nghề xuống biển để phi tang.

Sáng hôm sau, bà "đầu nậu" tri hô, mời bà chủ ghe lại cam kết, đặt ra mấy điều kiện như trước.

Chừng làng xã khám xét dưới ghe thì ô hô! Tuyệt nhiên không thấy nải chuối và con rùa nọ. Bà đầu nậu thua cuộc, phải đi theo làm đầy tớ cho bà chủ ghe, tất cả tài sản đều bị tịch thâu chở đi.

Người vợ vô cùng mừng rỡ, được tái hiệp với chồng. Dọc đường, bà đầu nậu nọ tức mình vì thua trí người khác nên nhảy xuống biển mà tự vận. Trước khi chết, bà ta ráng trồi lên hụp xuống để nhìn bao nhiêu của cải bị tịch thâu chở trong ghe. Bà ta hóa ra con cá nước.

Ngày nay, trên sông cái, ngoài biển, chúng ta thường thấy loài cá này có vú như người đàn bà, lặn hụp bên cạnh các ghe xuồng, lâu lâu thở dài, hú lên như oán giận, tiếc của.




CHÓ MỰC, NGỰA Ô



Thuở xưa, anh nông phu nọ nuôi trong nhà một con bò, một con chó, một con ngựa, một con mèo, một con heo. Tình cờ, mấy con thú này đều có lông đen nên anh nông phu gọi nó là ngựa đen, chó đen, mèo đen, bò đen...

Mấy con thú này không bằng lòng nên tranh công nhau. Con ngựa nói:

- Ông chủ nghĩ mà coi, tôi chạy hay chở một lần đôi ba người. Nhờ tôi đi chơi, ông làm oai với thiên hạ. Kêu tôi bằng ngựa đen thì không công bình.

Con heo tức mình, cãi lại:

- Tôi đây ích lợi hơn ngựa. Thịt của tôi ngon, tôi sanh nhiều con hơn hết, Con của tôi lại mau mập, bán có tiền... Tôi muốn được chức gì sang trọng hơn. Kêu tôi bằng heo đen, tôi tủi phận quá.

Con bò, con cho, con mèo cũng đem hết lý lẽ, dành công trận về phần mình.

Anh nông phu bèn trả lời:

- Khó xử quá! Hễ bênh vực kẻ này thì mích lòng kẻ khác. Để ta bày ra cuộc thi. Ai tới trước thì được chức lớn, ai về sau thì lãnh chức nhỏ. Chức lớn nhất là Ô (tên con quạ ô thước), kế đó là Mực (mực viết chữ), Mun (cây mun), Hóng (khói bếp đóng trên mái nhà). Ai về chót thì giữ đen như cũ.

Con ngựa chạy mau hơn hết, về nhất nên lãnh chức là ngựa ô, hạng nhì là chó lãnh chức là chó mực, hạng ba là con mèo lãnh chức mèo mun, con bò về hạng tư lãnh tên bò hóng. Con heo về hạng chót nên mang tên heo đen không thay đổi...
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 19 Tháng 4 2010

ÔNG HUỲNH MẪN ĐẠT



Ông Huỳnh Mẫn Đạt quê quán ở Rạch Giá thi đậu cử nhân, triều Tự Đức ông làm quan đến chức Tuần phủ tỉnh Hà Tiên.

Khi thực dân chiếm Nam Kỳ, ông viện cớ già, xin về hưu trí.

Trong khi ấy, người bạn của ông là Tôn Thọ Tường ra đầu hàng tân trào, được phong làm Đốc phủ sứ.

Hôm ấy, ông Huỳnh Mẫn Đạt lên Sài Gòn chơi. Đi ngang qua bùng binh chợ, ông dừng lại để nghe giàn nhạc của nhà binh Tây thổi kèn.

Tình cờ, Đốc phủ sứ Tôn Thọ Tường đi xe song mã tới. Ông Huỳnh Mẫn Đạt không muốn gặp mặt Tôn Thọ Tường nên vội vàng núp bên gốc cây.

Trong bụng ông khinh thường Tôn Thọ Tường. Nhưng Tôn Thọ Tường, lanh mắt nhảy xuống xe, chạy lại chào hỏi ông Huỳnh Mẫn Đạt. Rồi trách ông này sao lên Sài Gòn mà không ghé nhà mình chơi.

Ông Huỳnh Mẫn Đạt đứng trước một tình thế khó xử, bèn ngâm bài thơ bát cú, tỏ bày tâm sự:

Cừu mã ba năm dạo cặp kè,
Duyên sao giải cấu khéo đè ne.
Đã cam bít mặt cùng trời đất,
Đâu dám nghiêng mày với ngựa xe.
Hớn hở trẻ dong đương dặm liễu,
Lơ thơ già núp cội cây hòe.
Sự đời thấy vậy thì hay vậy,
Thà ẩn non cao chẳng thấy nghe.


Ý của ông Huỳnh Mẫn Đạt là buồn cho mình già nua, an phận, không bằng Tôn Thọ Tường là người tuổi trẻ, bay nhảy gặp thời. Lời văn công kích bạn nhưng rất tao nhã.

Ông Tôn Thọ Tường bèn trình bày cảnh khổ não của mình: tuy làm việc cho Pháp nhưng lòng vẫn đau xót:

Tình cờ xảy gặp bạn tiền liêu,
Thi phú ngâm nga hứng gió chiều.
Thế cuộc đổi dời đà lắm lắm,
Thiên cơ mầu nhiệm hãy nhiều nhiều.
Nớc non dường ấy tình dường ấy,
Xe ngựa bao nhiêu, bụi bấy nhiêu.
Hăm hở nhạc Tây nghe trỗi mạnh,
Nghe qua ngùi nhớ giọng tiêu thiều.




VẦN THƠ YÊU NƯỚC



Hồi người Pháp qua chiếm xứ Nam Kỳ, ông Tôn Thọ Tường ra đầu hàng, làm chức Đốc phủ sứ ở Vĩnh Long. Bị dư luận bạn bè và dân chúng chê bai, ông Tôn làm mười bài thơ tự thuật. Sau đây là bài đầu:

Giang san ba tỉnh hãy còn đây,
Trời đất xui chi đến nỗi này.
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo,
Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.
Xăng văng chậm tính thương đòi chỗ,
Khấp khởi riêng lo biết những ngày.
Miệng cọp, hàm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay.



Ông cử nhân Phan Văn Trị bèn họa vận, công kích lại:

Hơn thua chưa biết đó cùng đây,
Chẳng đã nên ta phải thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Dừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá há lung lay.



Hưởng ứng lời ông cử Trị, ông thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa họa theo, cũng lời thơ công kích:

Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây,
Đâu để giang san đến nỗi này.
Ngọn lửa Tam Tần phừng đất cháy,
Chòm cây Ngũ Quỷ lấp trời bay.
Hùm nương non rậm toan chờ thỏ,
Cáo loạn vườn hoang thác có ngày.
Một góc cám thương dân nước lửa,
Đền Nam trụ cả dễ lung lay!
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 19 Tháng 4 2010

NÚI YÊN TỬ Ở HẢI DƯƠNG



Ở Bắc phần mãi đến nay còn truyền tụng câu hát:

Dầu ai quyết chí tu hành,
Có về Yên Tử mới đành lòng tu.


Theo sách Khóa Hư Lục chép lại thì vua Trần Nhân Tôn mồ côi cha mẹ sớm. Muốn báo ơn cha mẹ, nhà vua bỏ ngai vàng, trèo non, lặn suối đến núi Yên Tử mà tu. Nhưng các vị Quốc sư sai người đến chùa năn nỉ đức vua trở về. Cực chẳng đã, vua Trần Nhân Tôn về trào mà chấp chánh.

Hai mươi năm sau, đức vua không quên được đạo Phật. Vua thỉnh vị Hòa thượng ở chùa Hoa Yên (núi Yên Tử) về kinh đô. Hòa thượng này trụ trì tại chùa Thắng Nghiêm, vua giao phó cho trách nhiệm xuất bản các kinh Phật.

Về già, vua Trần Nhân Tôn đến Yên Tử mà tu cho trọn lời phát nguyện lúc trước. Đời ấy, một vị trạng nguyên tên Trần Đạo Tái cũng đến núi Yên Tử mà tu hành không chịu làm quan.



ÔNG NGUYỄN MẠI XỬ ÁN



Ông Nguyễn Mại là mọt vị danhnho, quê quán ở làng Ninh Xá, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau khi thi đậu Hoàng Giáp, ông được bổ nhậm làm quan Án ở tỉnh Sơn Tây.

Một hôm ông ra chợ thấy có người đàn bà hung tợn đứng chửi rủa ỏm tỏi. Ông hỏi nguồn cơn. Người đàn bà nói:

- Ở xóm này, có đứa bất lương giật gà của tôi. Nhà tôi nghèo khó, đem gà ra đây bán lại bị nó ăn trộm.

Ông Nguyễn Mại tụ họp dân chúng xung quanh truyền rằng:

- Một con gà giá đáng là bao mà mụ này dám chửi rủa cả làng xóm. Vô phép quá! Vậy thì dân sự ở đây có quyền đánh mụ ta mỗi người một tát tai để trừng trị.

Vì là lệnh trên, dân trong xóm phải tuân lời. Nhưng họ không nỡ đánh mạnh, chỉ tát tai mụ nọ nhè nhẹ cho có lệ. Sau rốt, có một anh chàng cung tay thoi vàohông mụ nọ thật mạnh, miệng thì chửi rủa. Ông Nguyễn Mại nói:

- Quân hầu đâu? Bắt tên này. Hắn là đứa ăn cắp gà. Nghi ngờ gì nữa, có tịch thì nhúc nhích.

Tên ấy thú nhận và xin đền lại con gà.

Một lần khác, ông Nguyễn Mại đi dạo ngang qua chùa Sơn Vị, nghe trong chùa ồn ào vì một tiểu tăng nọ mất đồ vật tri hô lên. Ông Nguyễn Mại sai các sư nọ trong chùa lập đàn tràng để chạy đàn. Mỗi người cầm một cây phướng ở tay mặt, tay trái thì nắm chặt hột lúa.

Ông nói:

- Hễ ai gian tham, trộm cắp thì lát nữa hột lúa sẽ mọc trong tay.

Bao nhiêu sư sãi, ni cô đều trầm tĩnh chạy đàn, riêng một tiểu tăng nọ cặp mắt láo liên, lâu lâu hé ngón tay ra để coi thử hột lúa.

Ông tra hỏi thì tiểu tăng chịu tội.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Re: CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ - Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

UNREAD_POSTgửi bởi tducchau » 19 Tháng 4 2010

THẦN ĐỒNG ĐẦU THAI



Ông Lương Thế Vinh thuở mới bảy tuổi đã nổi danh là thần đồng, đọc sách đến đâu nhớ đến đó. Người cha của ông lấy làm kiêu căng, khi ăn giỗ, ăn tiệc thì khoe khoang với hàng xóm:

- Năm mười năm nữa, con tôi thi đậu, bà con sẽ biết tay tôi.

Hay tin đó, ông Lương Thế Vinh buồn bã nghĩ mình vô phước gặp người cha thiếu đạo đức. Ông vào lạy mẹ thưa:

- Con đi đầu thai ở gia đình khác, mẹ đừng buồn.

Mẹ khóc lóc. Ông giải bày căn do rồi nói tiếp:

- Nay mai, con đầu thai ở xã Cao Hương, huyện Thiên Bản, tỉnh Nam Định. Ngày đó, tháng đó mẹ đến đó tìm con.

Nói xong ông ngã lăn ra chết. Nguyên lúc trước có một thầy địa lý Tàu coi thiên văn biết có văn tinh giáng hạ nên tìm đến mà ếm. Thầy địa lý dò la trong xóm. Thấy lũ trẻ đang trửng giỡn. Thầy đào một cái hố, thảy xuống đó một trái bưởi, rồi nói:

- Đứa nào đem trái bưởi lên được thì ta thưởng cho hai quan tiền.

Ông Lương Thế Vinh nói nhỏ với một đứa trẻ. Đứa trẻ này múc nước đổ xuống hố, chặp sau trái bưởi nổi lên. Thầy Tàu hỏi: "Ai dạy mầy mưu kế này?". Đứa trẻ chỉ ngay ông Lương Thế Vinh. Thầy Tàu nhìn ông, có vẻ tức giận lắm. Biết vậy, ông chạy về làng Cao Hương.

Thầy Tàu cố tình nom theo. Túng cùng ông Lương Thế Vinh biến thân, ẩn trong cục đá bên đường. Sau khi tìm kiếm, thầy Tàu đề quyết hòn đá nọ, hỏi mua với hàng xóm. Ai nấy nói giả ngộ:

- Năm trăm quan tiền mới bán được.

Lúc ấy có người đàn bà đi qua, đạp chân vào hòn đá mà cười:

- Món này quý giá gì mà mua?

Nhờ vậy, ông đầu thai vào người đàn bà nọ. Về nhà thọ thai, người đàn bà sanh ra một đứa bé lạ. Mới lọt lòng ra đứa bé khóc ngày, khóc đêm không ai dỗ nín hoặc cho bú được.

Bỗng đâu bà mẹ lúc trước đi ngang qua, bồng cho bú thử. Đứa bé lại nín. Bà mẹ ở luôn lại đó, nuôi vú và thuật lại sự tình. Xóm làng không tin.

Vài năm sau, đứa bé biết nói. Nó gọi:

- Má ơi! Hồi kiếp trước con có chôn mấy cuốn sách ở dưới gốc cây duối. Mẹ về đào lên đem lại đây cho con.

Thiệt đúng như lời! Nhờ mấy cuốn sách nọ mà ông Lương Thế Vinh mở mang trí tuệ, năm hai mươi ba tuổi thi đậu Trạng nguyên.

Ông làm quan rất mực thanh liêm. Thời giờ rảnh ông tu chỉnh lại mấy bộ kinh Phật cho đúng bổn chánh và đặt ra phép tính cửu chương.

Khi ông mất, vua phong làm Thượng đẳng phước thần.




ÔNG TIÊN SƯ LÀM NGHỀ LỌNG



Đó là ông Bùi Nhạ Hành người ở xã Thượng Phúc vùng Hà Nội. Ông đậu tấn sĩ vào cuối đời nhà Trần. Khi quân Minh sang xâm chiếm, ông theo phò Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn.

Cuộc khởi nghĩa thành công, đời vua Lê Thánh Tôn, ông đem lễ vật qua bên Tàu mà cống sứ. Đến thành Yên Kinh, vua Tàu sai một vị quan mời ông Bùi Nhạ Hành lên trên lầu cao để xem kinh Phật rồi mới cho vào cống sứ.

Ông leo lên. Vừa đến lầu thì dưới này quan Tàu rút thang. Hai ba ngày, ông không được ăn uống gì cả. Biết là quân Tàu muốn thử mưu kế, ông bình tĩnh nhìn trên lầu, thấy một tượng Phật to lớn và một tô nước lạnh. Sau tượng Phật, có hai cái lọng che. Lấy ngón tay khều ra thử, rõ ràng tượng nọ bằng bột chín phơi khô. Ông Bùi Nhạ Hành bẻ tượng Phật mà ăn rồi đọc kinh Phật.

Năm bảy ngày sau, không còn món gì để ăn nữa, ông bèn cầm thử hai tay hai cây lọng nhảy xuống đất, nhờ lọng bọc gió, ông xuống rất êm.

Quan Tàu ngạc nhiên, khâm phục tài ông. Chừng trở lên lầu thấy tượng Phật biến mất, quan Tàu hỏi:

- Tượng Phật đâu rồi?

Ông Bùi Nhạ Hành chỉ tay vào bụng mình mà cười:

- Tâm tức Phật! Phật tức tâm!

Nhờ tài ứng phó của ông, vua Tàu nể nang nước Việt Nam ta.

Khi ông Bùi Nhạ Hành mất, vua nhà Lê phong cho chức Thái Bảo Lương quận công. Tục truyền rằng sau khi về nước, ông phổ biến nghề làm lọng căn cứ vào hai cây lọng ông nhảy xuống đất.
Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
tducchau
Thành viên 2 Sao **
Thành viên 2 Sao **
 
Bài viết: 250
Ngày tham gia: 10 Tháng 4 2010

Trang kế tiếp

Quay về Sưu tầm

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.2 khách.

cron