Hào Kiệt Miền Nam

Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi phantran » 11 Tháng 7 2013

Các bạn có biết không ?
Thân phụ của Phương Anh tức anh 6 là một nhà văn

Tôi có duyên được nghe anh kể lại một phần đời của anh khi về thăm Hương Mỹ .
Sau 75 anh sống một đời sống vô cùng thanh bạch với vườn đất gia đình.
Một câu anh nói :Mũ áo trào đình trả lại trào đình.
Tôi xin trân trọng tặng anh 4 chữ

Hào Kiệt Miền Nam
Phan Trần
Hình đại diện của thành viên
phantran
Thành viên Admin
Thành viên Admin
 
Bài viết: 632
Ngày tham gia: 29 Tháng 1 2008

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 11 Tháng 7 2013

phantran đã viết:Các bạn có biết không ?
Các bạn có biết không ?
Thân phụ của Phương Anh tức anh 6 là một nhà văn

Tôi có duyên được nghe anh kể lại một phần đời của anh khi về thăm Hương Mỹ .
Sau 75 anh sống một đời sống vô cùng thanh bạch với vườn đất gia đình.
Một câu anh nói :Mũ áo trào đình trả lại trào đình.
Tôi xin trân trọng tặng anh 4 chữ
Hào Kiệt Miền Nam



Nhân chuyện anh Phan Trần "phong" cho Anh 6, 4 chữ : HÀO KIỆT MIỀN NAM , XP xin được mượn 4 mỹ từ này , mở chuyên mục giới thiệu các HÀO KIỆT thuộc MIỀN NAM , nhất là "Hào Kiệt Miền Tây Nam Bộ" .

XP cũng đã hân hạnh gặp mặt anh 6 cách nay vài năm , trong chuyến về Hương Mỹ thăm gia đình thầy Đặng Vũ Chính ( 15-8-2010 ) .
Anh 6 là anh thứ sáu
(thường gọi "anh Sáu") của cô KIM HOÀNG (thứ 10, phu nhân Thầy Chính) .


Anh Sáu
Hình ảnh



Cô Kim Hoàng (phu nhân thầy Chính)
DZÔ !...

Hình ảnh



Thầy Chính ....phá mồi ! :lol:

Hình ảnh




Ba-Chàng-Ngự-Lâm-Pháo-Thủ của HKH-HM .
Thầy Đặng Vũ Chính, ThầyTrần Đức Bỉnh, anh Năm Hưng

Hình ảnh


Khoảng trống giữa Thầy Chính và Thầy Bỉnh là chỗ ngồi của XP
(XP đang làm ...phó nhòm)

Hình ảnh


th: th:
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 11 Tháng 7 2013

Mở đầu cho trang HÀO KIỆT MIỀN NAM , XP xin mời DĐ đọc bài viết "LỐI SỐNG SAIGON - LỤC TỈNH" của Nam Sơn Trần Văn Chi .

Rất mong nhiều thành viên DĐ tham gia cho mục này, nhất là các bạn trẻ .
Các Thầy- Cô, Chú-Bác đi trước luôn mong ước lớp trẻ "Hướng về tương lai" mà không quên "nhìn lại quá khứ" để tiếp nhận cái hay, cái đẹp, cái hào hùng của Cha-Ông , của các bậc Trưởng Thượng để lại .

XP







Lối sống Sài Gòn-Lục Tỉnh

Nam Sơn Trần Văn Chi



Tháng Mười năm 1558, Nguyễn Hoàng (1524-1613), vào Nam, định ở Ái Tử, lập chánh quyền trung ương ở xứ Thuận Hóa; đến chúa Nguyễn Phúc Nguyên “lập Phủ xưng Vương” và “ly khai với triều đình” của vua Lê Chúa Trịnh, lấy sông Gianh chia Nam Bắc.

Ðến thời chúa Nguyễn Phước Chu lập xứ Sài Gòn... Ðồng Nai Cửu Long, miền Nam ruộng đất mênh mông, bao bọc sông nước, lúa gạo dư ăn, sản vật dồi dào, đời sống người dân phong phú.

Tư tưởng Nho Giáo đến với miền Nam rất muộn so với miền Trung, miền Bắc. Mặc dầu miền Nam Lục Tỉnh cũng có Văn Thánh Miếu Biên Hòa, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, Trường Thi Hương Gia Ðịnh, sau dời về Châu Ðốc; nhưng đa số người miền Nam không lấy Nho học làm mục tiêu kiếm sống, hay để thăng quan tiến chức. Bởi đời sống kinh kế ở đây dồi dào chăng?

Trong gia đình, ngoài xã hội, lối sống của người miền Nam không bị lễ nghi Nho Giáo ràng buộc. Nên trong nhà cha mẹ gọi con bằng Thằng Hai, con Ba, thậm chí gọi con cháu là “Thằng Hiệu Trưởng”, “Thằng Quận Trưởng; gọi người giúp việc nhà bằng “bạn ở” thay vì gọi là con sen, con ở... Ngoài xã hội gọi tên, goi bằng Thứ chớ ít khi gọi bằng chức vụ, học vị... như ở miền ngoài phải “Bẩm” quan thượng, quan đốc tờ...

Người miền Nam khai phá Chữ Quốc ngữ, sớm tiếp nhận tư tưởng Tây phương không cố chấp, bảo thủ khư khư coi chữ Tàu là chữ thánh hiền!

Miền Nam đất mới nên có nhiều tín ngưỡng dân gian, sau nầy biến thành những lễ hội dân gian, độc đáo và mang dấu ấn Sài Gòn-Lục tỉnh.

Nhiều tôn giáo “mới” xuất hiện ở phía Nam như Phật Giáo Cổ Sơn Môn, Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Hòa Hảo, Ðạo Cao Ðài, Hòa Ðồng Tôn Giáo (Ðạo Dừa Bến Tre). Một cách chừng mực, chúng ta có thể lý giải đây là sự canh tân, đổi mới trong tín ngưỡng của những con người mới, sống trên vùng đất mới:

“Tới đây xứ sở lạ lùng
Chim kêu cũng sợ cá vùng cũng lo”
(Ca dao miền Nam)

Lối sống, Luân lý-Ðạo đức của người Miền Nam là thứ “luân lý-đạo đức ứng xử” từ trong gia đình đến ra ngoài xã hội, trên nền tảng là Hiếu Hòa - Ðiệu Nghệ - Trọng Nghĩa Khinh Tài. Trong khi miền Ngoài là “đạo đức đãi bôi-chánh trị”. Trọng tài khinh nghĩa.

Cũng dễ hiểu, bởi người khai hoang sống chung lộn với nhiều sắc dân bản địa lẫn ngoại quốc.

Trên cơ sở khách quan như lịch sử, địa lý, tư tưởng, tôn giáo như thế nên lối sống người Sài Gòn-Miền Nam sớm thể hiện như:

- Có đầu óc thương nghiệp: Sống ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long, ruộng lúa nhiều và phì nhiêu, lúa gạo sản vật dư ăn, trở thành hàng hóa, nên người dân sớm có đầu óc buôn bán. Người Hoa Minh Hương đến ở Biên Hòa, Mỹ Tho sẵn đã thạo về buôn bán góp phần làm cho thương nghiệp ÐBSCL phát triển.

- Mở cửa hội nhập:
Ngay từ buổi đầu, người Việt đã có sống hội nhập của những sắc tộc khác nhau ở miền Nam, qua sanh hoạt buôn bán nên có điều kiện tiếp cận trao đổi với người Việt thuộc nhiều địa phương và người nước ngoài.

Nên từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18, Sài Gòn đã sớm trở là trung tâm thương mại có tính chất quốc tế, người dân Sài Gòn lại sử dụng nhiều thứ tiếng. Ðó những lý do khiến miền Nam, với trung tâm Sài Gòn, là mảnh đất thương nghiệp lớn của cả nước.

Sài Gòn còn là mảnh đất đi đầu trong canh tân tại Việt Nam. Cuối thế kỷ 18, thành bát quái của Sài Gòn đã được xây dựng theo mô hình của Tây phương. Có Trương Vĩnh Ký phác họa ra chương trình giáo dục rất khoa học: lý thuyết kết hợp với thực tế, mang sắc thái của giáo dục Ðàng Trong. Khi Phan Châu Trinh đưa ra chủ trương canh tân với phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục cũng xuất phát từ thực tế thì miền Nam.

Sông Cửu Long là một trong chín con sông lớn nhất thế giới. Nơi đây nảy sinh cách sống và nguồn tư duy mới không như Nho Giáo đàng Ngoài.


- Tự do, “thẳng như ruột ngựa”.

Hà Nội là thành phố “nghìn năm văn vật” với sự phát triển tiệm tiến bảo thủ. Miền Nam là đất mới, nơi thay đổi nhiều nhất so với cả nước trong vài thế kỷ qua, phát triển nhanh, trong quá trình đang định hình. Người miền Nam có phong cách sống tự do, rõ nhất là ăn mặc, cách đứng ngồi, nói năng, giao tiếp rất thoải mái tự do, phóng khoáng.

Người Bắc, người Trung, ngoại quốc vào Sài Gòn dễ bị đồng hóa thành người Sài Gòn. Tánh khí “không Miền Nam” sẽ bị đào thải.

Những người mới tới Sài Gòn, nhất là từ miền Bắc, ban đầu phong cách đối xử của họ thường hơi “chói tai” với Sài Gòn, họ “trọng tài khinh nghĩa”, nhưng sau một thời gian, có thể gọi là cái “hồn Miền Nam” làm cho họ thay đổi. Hồn Sài Gòn Miền Nam là phong cách “thẳng như ruột ngựa”, trọng nghĩa khinh tài của người Miền Nam.


- Nhanh và nhạy.

Ðiều đáng chú ý ở Sài Gòn và Miền Nam là nét nhan từ làm việc, đi đứng đến ăn uống... Miền Bắc uống trà nhấm nháp, nhưng ở Sài Gòn trà rót ra ly lớn, cho đá vào, uống nhanh. Làm ăn quyết đoán nhanh, đi đứng đều nhanh, hầu hết người dân dùng xe và nông cụ có gắn động cơ, khác với Hà Nội còn nhiều xe thô sơ. Nét Nhanh đó liệu có là một điểm trong cốt cách Sài Gòn.

Người Miền Nam không sâu sắc như người Huế, thâm trầm như người Hà Nội. Nét nhanh khiến họ “có thì nói có, không thì nói không”, không vòng vo, xấu lại nói là “không đẹp”.


- Ý thức dân chủ.

Miền Bắc sớm có tinh thần độc lập, do sớm bị Tàu đô hộ, người miền Nam sớm có tinh thần tự do, dân chủ, do sớm tiếp cận với Tây phương.

Cho nên thời Pháp thuộc, người Pháp coi Nam Kỳ là một “xứ Pháp ngoài nước Pháp”, người Pháp không thể cai trị Nam Kỳ như các xứ Châu Phi. Người Pháp dành cho Nam Kỳ quy chế như một nước dân chủ. Bởi Nam Kỳ có những người như Trương Vĩnh Ký, có văn hóa, tinh thần dân tộc.

Người dân Sài Gòn có ý thức về dân chủ sớm so với cả nước. Qua báo chí và sự tham dự của người dân vào việc chung làm cho tư tưởng tự do phát triển, kinh tế phát triển vừa nhanh vừa vững chắc...


- Không bảo thủ- Mạnh dạn thử nghiệm.

Sài Gòn và Miền Nam thâu hút nhân tài đến từ nhiều nguồn khác nhau, thành phần dân cư đa dạng cởi mở, dễ tiếp nhận cái mới, tự giác đào thải cái không phù hợp, “đồng hóa” các người nơi khác tới bởi tánh chất “điệu nghệ” Nam Kỳ.

Tinh thần mạnh dạn và “Thử nghiệm” của người Miền Nam giống như người Mỹ, người Úc.


Lối sống người Sài Gòn :

1. Giỏi Thương nghiệp

2. Dễ hội nhập

3. Chuộng Tự do, thẳng thắn

4. Nhanh và nhạy

5. Ý thức dân chủ cao

6. Không bảo thủ

7. Mạnh dạn thử nghiệm

***

Văn hóa hiểu rộng rãi là nếp sống của con người, phản ảnh khách quan những thực tế lịch sử địa lý vùng - miền mà con người sống.

Nước mình hình thành và phát triển theo thời gian lần lượt từ Bắc vào phương Nam với các trung tâm văn hóa Thăng Long-Thuận Hóa-Lục Tỉnh làm nên bản sắc dân tộc Việt Nam.
.........



Bài viết được trích từ báo Người Việt Online.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 77221&z=16
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 11 Tháng 7 2013


ANH HAI SAIGON !



Một ngày hè, khu chợ Sân vận động Warszawa khá đông người, con đường chính nằm cạnh ga tàu hỏa trở nên chật hẹp, dòng người đi xuôi ngược chen sát bên nhau. Bỗng mọi người giật mình tự động giãn ra hai bên bởi những tiếng kêu hối hả, giục giã, tưởng như ai quát tháo. Tôi chúi người sang bên khó chịu ngoái lại phía sau.
Một chiếc xe đẩy bốn bánh chồng chất mấy thùng hàng đang ràn rạt đi tới. Hai đồng hương quê Việt, người kéo xe nhỏ con, xộc xệch áo quần, nhễ nhại mồ hôi, oằn mình điều khiển đôi càng xe. Anh ta đi bên cạnh, vận bộ đồ láng bóng, tay đút túi quần, tay cầm điếu thuốc cháy dở, bộ mặt lạnh băng, miệng còn cắm cây tăm mà vẫn la ra rả như nhả đạn: "U-wa-ga! U-wa-ga!" (*).
Đúng là nghịch cảnh hiếm hoi, đã lâu rồi tôi mới được mắt thấy tai nghe giọng nói và bộ dạng của một ông chủ, kiểu "anh Hai Sài Gòn". Mãi để ý nhìn cái điệu bộ lạ kỳ, không dễ ưa cùa anh ta thì "roạt" một cái, bánh sau chiếc xe lọt xuống ổ gà tròng trành quày ngang, đai giây thép của thùng hàng sạt vào tay áo tôi làm bung ra vết rách khá lớn, chiếc áo gió rất ưng ý mà tôi vừa mới sắm hôm trước thế là đi tong...
"Mắt mù! Đi như thế hả?" - Tôi sẵng giọng, huơ ống tay áo phất phơ miếng vải rách trước mặt mọi người, hằm hằm chiếu tướng thằng cha xe kéo.
Hắn quay lại, gườm mắt vẻ anh chị, đoạn nhổ toẹt miếng nước bọt, trừng trợn văng tuc:"Đ..mẹ! Thấy người ta kéo nặng phải tránh ra chứ... Ngu thế!".
Tôi sấn lại: "Mày bảo ai ngu?". Hắn rít qua kẽ răng dậm dọa: "Thằng nào ngu cho chết, biết điều thì biến!".
Cơn giận sôi lên, chỉ ba bước nhảy tôi đã đứng trước mặt hắn, mười ngón tay cuộn chặt thành hai nắm đấm.
Tay kéo xe cũng lùi lại, rạp người co gối, xuống tấn như vào một thế võ.
Đám đông khách Tây đi chợ ùn lại, chỉ trỏ giương mắt hiếu kỳ nhìn hai anh châu Á đang sát khí đằng đằng.

Ngay lúc đó, một bàn tay vỗ vào vai tôi, anh ta đứng ngay đằng sau, giọng nói tiếng Nam bỗ bã:
- Dẹp, dẹp đi !...Muốn uýnh lộn hử ? Qua bên Iraq mà uýnh nha tụi bay... Coi bộ kìa, yêng hùng quá!...Tụi tây nó cười cho thúi mũi...
Anh phân bua trước đám đông đang tản dần đi, tiếng Ba Lan "giả cầy" vẫn như súng nhả đạn:
- Nhe-ma-pô-lem! Nhe-ma-pô-lem! (**)
Nhìn tôi, anh nháy một bên mắt, nhếch mép cười:
- Nè, chuyện đâu còn đó mà. Cái áo 15 "zua" (***) bọ không đáng chi, tụi bay uýnh lộn, cảnh sát nó rờ tới thì sao?
Hai từ cảnh sát thốt ra lúc này có vẻ hiệu lực, tôi hơi sững mình, còn tay kéo xe chưng hửng, vẻ lầm lũi...
Xốc lại bịch hàng đang chực rớt xuống, anh ta dằn giọng nửa đùa nửa thật với tay kéo xe:
- Xin cha nội, kiếm từng cắc bạc trên đất người ta, mảnh giấy lộn không có trong túi còn bày đặt giở thói hung hăng. Thôi đi nào, nâng cái càng xe lên ! giữ cân bằng lại... Chu cha ! Nặng dữ nghen... Sao mày hổng nói?...
Trước khi quay đi, anh ghé tai tôi nói nhỏ: "Đằng mình với nhau cả, chấp nó làm chi... Nhớ lại sạp 351 nhá, anh kiếm cho chú cái áo khác!...Đi thôi, U-wa-ga! U-wa-ga!...
Lại một cái nháy mắt nữa vất lại tạm biệt. Chiếc xe kéo trườn đi tiếp, xem bộ vững vàng hơn vì giờ đây có thêm một cánh tay đẩy giúp, "anh Hai Sài Gòn" không còn đâu cái dáng ông chủ, anh đang ở phía sau, xoãi chân dồn sức ẩy xe hàng vượt qua cái ổ gà...

Không hiểu sao nỗi tức tối trong tôi vụt biến mất tự lúc nào. Phải chăng vì cái điệu bộ, kiểu cách ăn nói khôi hài của một "anh Hai Sài Gòn" bằng da bằng thịt trước mắt. Hay chính tôi, vừa ngượng ngùng thoáng hiểu, cái hình ảnh "uýnh lộn" chắc chắn chẳng đẹp đẽ gì, suýt chút nữa đã xảy ra trước bao con mắt của người dân bản xứ, nếu như không có... Tôi thầm cảm ơn "anh Hai"... Lòng nhẹ nhõm, bước chân hòa vào đám đông dòng người đi chợ. Nắng trời Âu chói chang, tôi ngỡ mình như đang tắm trong màn nắng Sài Gòn quê nhà.

Warszawa,
PHI VA
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 30 Tháng 7 2013

Huyện Sĩ: Người Giàu Nhất Đông Dương


Hai công trình ghi dấu ấn của người Việt giàu nhất Đông Dương

Trong Tứ đại phú hộ ở miền Nam Việt Nam giàu nhất miền Nam Kỳ lục tỉnh và cả Đông Dương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, đứng đầu là Huyện Sĩ. Gia sản kếch xù của ông còn để lại cho đời với hai công trình kiến trúc lớn là nhà thờ Huyện Sĩ và nhà thờ Chí Hòa !!

Người ta ước tính tổng tài sản của ông gấp 7 lần số tiền bỏ ra xây dựng cung tiến hai nhà thờ này. Cháu ngoại ông chính là Hoàng hậu Nam Phương, chính thất của cựu hoàng Bảo Đại. Theo nhiều tài liệu của hồi môn của Hoàng hậu Nam Phương khi lấy vua Bảo Đại lên tới 20.000 lượng vàng.


Hình ảnh
Đứng đầu trong tứ đại phú hộ Việt Nam, Huyện Sĩ tên thật là Lê Phát Đạt (1841 - 1900) gia tộc ông giàu có nức tiếng, là người mộ đạo nên ông bỏ tiền túi và đất của mình xây dựng hai nhà thờ Chí Hòa, Huyện Sĩ.

Hình ảnh
Cả hai nhà thờ này đều được xây dựng kiên cố, xi măng cốt thép của phương Tây, số tiền Huyện Sĩ bỏ ra để xây dựng 2 nhà thờ này không ai biết chính xác nhưng nó chỉ cỡ bằng 1/7 gia sản của ông.


Hình ảnh

Hình ảnh

Bên cạnh được sử dụng là nơi sinh hoạt tôn giáo, nhà thờ Huyện Sĩ còn được nhiều người thăm quan du lịch.



Hình ảnh

Hình ảnh
Nam Phương hoàng hậu - vợ vua Bảo Đại là cháu ngoại của Huyện Sĩ, khi xuất giá làm vợ Bảo Đại Nam Phương hoàng hậu nhận được của hồi môn lên tới 20.000 lượng vàng.


Hình ảnh

Hình ảnh

Nhà thờ Chí Hòa cũng được Huyện Sĩ bỏ tiền xây dựng


Hình ảnh

Hình ảnh

Không gian bên trong nhà thờ Chí Hòa



Hình ảnh
Người đời thường nói tuy là vua một nước nhưng tài sản của cựu hoàng Bảo Đại không thể so sánh với Huyện Sĩ


Hình ảnh
Hai ngôi mộ tượng trưng của vợ chồng Huyện Sĩ trong nhà thờ Huyện Sĩ


http://www.lasanmossard.org/thegioiinte ... 12/huyensi
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 31 Tháng 7 2013


Bài này đã bị tin tặc vào nhà lấy cắp mất . XP xin gửi lại .




LUẬT SƯ CÔNG PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA ViỆT NAM
Giáo Sư NGUYỄN VĂN BÔNG
(Sanh ngày 2 tháng 4 năm 1929.
Qua đời 12 giờ trưa ngày 10 tháng 11 năm 1971)



Cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông quê quán tại làng Kiểng Phước, tỉnh Gò Công. Làng Kiểng Phước khi xưa bao gồm các xã: Vàm Láng, Tân Phước và Gia Thuận. Nằm về phía Đông cách tỉnh lỵ Gò Công độ 9 cây số.

Vàm Láng với Nam Hải minh mông, tục truyền rằng ngày trước, vua Gia Long chạy giặc bị bão tố, thuyền Ngài sắp đắm thì bỗng đâu có cặp cá voi xuất hiện, đỡ thuyền đưa vào bờ. Để nhớ ơn, nhà vua phong cho cặp cá voi này làm Thần Nam Hải Đại Tướng Quân. Hiện giờ đền thờ còn tại Vàm Láng.

Tân Phước cũng là một địa danh được ghi vào lịch sử vì nơi đây vị anh hùng kháng Pháp Trương Công Định đã dùng làm căn cứ chống xâm lăng, lập nhiều thành tích lớn.

Chính hai nơi này đã ung đúc tinh thần tranh đấu can trường và sáng suốt của nhơn dân địa phương nói chung và của cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông nói riêng.

Cách chợ Kiểng Phước về hướng Đông chừng 200 thước, ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Nhạn, nội tổ của Giáo sư Nguyễn Văn Bông nằm bên một con rạch, với giòng nước uốn quanh và cây cầu khỉ lắt lẻo bắt ngang, là nơi đã chôn sâu bao nhiêu kỷ niệm của cố Giáo sư trong những ngày thơ ấu. Nội tổ cố Giáo sư làm nghề thợ Kim Hoàn. Dân địa phương rất quý mến về đức độ của ông, quen gọi là thợ Nhạn cho thân mật.

Ông Nguyễn Văn Nhạn sanh được cả thảy 9 người con, mà thân phụ của cố Giáo sư là ông Nguyễn Hiền Năng, con thứ tư trong gia đình. Ông Nguyễn Hiền Năng sánh duyên cùng bà Nguyễn thị Phải, sanh hạ được một gái đầu lòng là bà Nguyễn thị Thơm và hai trai kế tiếp là Nguyễn Văn Bông và Nguyễn Văn Thọ.


Cậu bé Nguyễn Văn Bông chào đời vào ngày 2 tháng 4 năm 1929 tại làng Kiểng Phước tỉnh Gò Công. Khi mới lên 5 tuổi cha mẹ vì hoàn cảnh phải xa nhau, cậu được nội tổ đem về nuôi dưỡng. Đến năm 7 tuổi, bắt đầu theo học tại trường làng. Ba năm sau, cậu Nguyễn Văn Bông học hết lớp Ba thì được cấp học bổng Tiểu Học để học tại trường Nam Tiểu học Tỉnh lỵ Gò Công.

Mặc dầu thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, nhà thì nghèo, thân phụ phải đi làm ăn xa, cậu bé Nguyễn Văn Bông vẫn cố gắng học hành, và năm 12 tuổi thi đỗ bằng Tiểu Học, được tiếp tục hưởng học bổng để theo bậc Trung học tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ.

Năm 1945, sau biến cố chánh trị , ngọn lửa chiến tranh bắt đầu bùng cháy và lan tràn khắp nước, các trường học đều đóng cửa với khẩu hiệu “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”; cậu Nguyễn Văn Bông đành trở về Gò Công chung sống với gia đình, sự học bị gián đoạn.

Tại quê nhà cậu học sinh Nguyễn Văn Bông phụ giúp thân phụ làm nghề sửa xe đạp để kiếm thêm tiền mua sách vở. Vốn tánh hiếu học, cậu không hề bỏ phí một giờ khắc nào, hễ có dịp rảnh là chăm chỉ đọc sách. Với số tiền dành dụm cậu đã tạo ra được một tủ sách có giá trị và quanh năm chỉ biết mua vui bằng sách báo. Cậu thường bày tỏ tâm sự với gia đình rằng: "Giòng họ ta không có ai học hành cao, tôi quyết làm thế nào cho rạng rỡ tổ tông“.

Một năm sau, cậu thiếu niên Nguyễn Văn Bông rời Gò Công lên Sài Gòn cùng với một số bạn bè vừa đi dạy học tư , vừa làm thư ký cho khách sạn để có điều kiện theo đuổi sự học vấn.
Sau mấy năm làm việc để gom đủ số tiền mua được một vé tàu hạng ba đi Pháp, ông rời Việt Nam để thực hiện giấc mơ du học ở Paris.

Tại Paris, ông được một người quen cho ở trọ để tiếp tục học lấy bằng Tú tài. Trong thời gian này, để sinh kế, ông làm và làm bồi bàn tại tiệm ăn La Table du Madarins. Tại đây, ông làm quen với một sinh viên Việt Nam khác cũng đang làm bồi bàn tại đây là Nguyễn Ngọc Huy, người sẽ cùng sát cánh hoạt động chính trị với ông sau này.

Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông theo học ngành Luật và Chính trị học, Đại học Sorbonne.

Để có tiền theo học, ông phải làm nhiều nghề, kể cả khuân vác, giặt ủi. Do lao lực quá độ, có thời gian ông làm phu khuân vác đêm tại Nhà Lồng Paris hay Les Halles, đã bị nhiễm bệnh lao, phải nằm bệnh viện một thời gian.
Với ý chí và nỗ lực, ông tốt nghiệp Cử nhân Luật năm 1956,
rồi Tiến sĩ Luật và Chính trị học năm 1960.
Năm 1962 ông trở thành người Việt Nam đầu tiên có bằng Thạc sĩ Công pháp Quốc tế.
.

Đầu năm 1963, ông quyết định về nước làm việc. Trước khi về nước, ông đã hứa hôn với một nữ sinh viên có tên là Lê Thị Thu Vân, ngưởi cùng quê Gò Công, người sau này trở thành bạn đời của ông.

Sau khi về nước, ông dạy môn luật hiến pháp và khoa học chính trị tại Trường Đại học Luật Sài Gòn và Học viện Quốc gia Hành chánh.
Ngày 15 tháng 11 năm 1963 Giáo sư NVB được cử vào chức vụ Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, gánh vác trọng trách đào tạo nhơn tài cho đất nước.
.
Đầu năm 1964, ông thành hôn với bà Thu Vân, cùng quê Gò Công , gặp ông tại Paris, người sinh viên này đã rời bỏ nước Pháp để về VN thành hôn với ông, dù ông "chỉ là một giáo sư nghèo" hơn bà đến mười tuổi .

Ông bị mưu sát lần đầu vào năm 1968, nhưng đến lần 2 (1971) ông bị ám sát chết lúc mới 42 tuổi. Gs Nguyễn Văn Bông qua đời để lại vợ mới 30 tuổi, hai trai và một gái.

Sau 1975, vợ ông là Lê Thị Thu Vân, còn gọi là “Cô Út” (người Gò Công, ông gặp ở Paris) bà tái giá với một nhà ngoại giao Mỹ là Lacy Wright, và lấy tên mới là Jackie Bông Wright. Sau này bà có viết và xuất bản một cuốn sách giống như hồi kí có tựa đề là Autumn Cloud: From Vietnamese War Widow to American Activist (Mây mùa thu: từ một góa phụ chiến tranh đến một người hoạt động xã hội).



Giáo sư Nguyễn Văn Bông qua lời kể của tác giả Trần Văn Chi



Những ai may mắn gần gũi với Nguyễn Văn Bông chắc còn nhớ lúc mới về Sài Gòn, còn ở tạm tại một khách sạn nhỏ trên đường Kỳ Ðồng, ông thạc sĩ độc thân, đẹp trai hồn nhiên mặc chiếc áo thun rách 3 lỗ ra tiếp đón bà con bạn bè đến mừng ! Nguyễn Văn Bông mộc mạc, thiệt thà, đơn giản, là con người “trước sao, sau vậy”. Rồi ông được mời giảng dạy chánh thức tại đại Học Luật Khoa Saigon, đến 15 Tháng Mười Một năm 1964 được cử làm viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Nguyễn Văn Bông vẫn vậy.

Ðối diện với ông trên bộ ghế salon bằng gỗ cũ kỹ tại căn nhà của ông do nhà nước cấp, trước trường Nữ Trung Học Gia Long vào thập niên 70, tôi nói chuyện với ông như người anh em, người đồng hương, người “bạn tri kỷ”, dầu tôi với ông cách biệt tuổi tác và địa vị.

Ðó là cái lớn của Nguyễn Văn Bông mà tôi ít tìm thấy nơi những tri thức cũng như chánh khách mà tôi hân hạnh tiếp xúc lúc bấy giờ.


Làm viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nơi đào tạo những con người lãnh đạo đất nước, những ông chủ quận, chủ tỉnh, quan chức cao cấp... nhưng Nguyễn Văn Bông không coi mình là quan chức. Ông trước sau chỉ là người thầy, người anh, người bạn với mọi người kể cả học trò của ông.


Nguyễn Văn Bông dầu được chánh quyền mời về, nhưng ông không e dè đăng đàn thuyết trình đề tài “Ðối lập chánh trị trong chế độ dân chủ” ngày 1 Tháng Tám năm 1963, nhân buổi lễ khai giảng năm học, trước cử tọa gồm viện trưởng, khoa trưởng, giáo sư cùng hàng ngàn sinh viên. Không kể nội dung bài thuyết trình, thái độ của người thầy Nguyễn Văn Bông đã làm cho sinh viên cùng đồng sự của ông nể trọng, kính phục. Ðó là đức độ kẻ sĩ. Và mấy ai làm được?

Ông không chọn thái độ ở ẩn như Phan Văn Trị, từ quan như Vũ Văn Mẫu. Lối xuất sử của Nguyễn Văn Bông làm cho ông trở thành con người nổi trội bấy giờ.

Sau Cách Mạng 1 Tháng Mười Một, ông đảm nhận các chức vụ viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, cố vấn cho Tối Cao Pháp Viện, ủy viên Hội Ðồng Quản Trị Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Tới lúc này ông Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông vẫn thường về quê Gò Công, tìm món khô “hắc cấy”, món ngon đặc sản Vàm Láng của ông. Nghe ông thích thú kể chuyện con hắc cấy, chuyện làm gỏi da cá đuối mà tưởng chừng đang nói chuyện với lão nông, hay người đánh cá. Cung cách Nguyễn Văn Bông đã thâu hút mọi người và làm mọi người đến với ông. Rồi ông được mời hoạt động, làm chánh trị, bởi anh em thấy ở ông cái đức độ của con người lãnh tụ thật sư, có tấm lòng, có cái Tâm. Ông làm chánh trị như nhà tu hành thiền.



(Nguồn : tổng hợp từ Internet)



.......
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 06 Tháng 8 2013

Phạm Công Thiện
Thần đồng ngôn ngữ, triết học

(1/6/1941 - 8/3/2011)

__

Phạm Công Thiện sinh năm 1941 tại Mỹ Tho (Tiền Giang)
. Học vấn của ông là cả một bí ẩn. Tuy chưa bao giờ có một mảnh bằng Tú tài trong tay nhưng ông đã được nhiều trường Đại học nổi tiếng thế giới mời giảng dạy, trong đó có trường đại học Yale của Mỹ và Sorbonne của Pháp.

Ở lứa tuổi chưa tới 16, ông đã trở thành cộng tác viên trẻ nhất của tạp chí Bách Khoa.

Năm 15 tuổi, ông đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Phạn và tiếng La Tinh. Tất cả những điều này đều được chứng nhận qua các vị học giả và các chuyên gia ngôn ngữ học của nhiều trường Đại học.

Ngoại ngữ là một chìa khóa giúp ông mở nhiều cánh cửa triết học Tây phương để ông thai nghén và cho ra đời tác phẩm “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” được ông viết khi chưa tới 19 tuổi. Tác phẩm này đã đưa tên tuổi ông trở thành một hiện tượng mà thời gian ấy người ta gọi là thần đồng Triết học của Việt Nam.

Nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Khởi Hành, người theo sát với Phạm Công Thiện từ những năm đầu tiên khi ông xuất hiện cho biết những năm đầu khi ông nổi tiếng tại Việt Nam:

“Thật ra Phạm Công Thiện nổi tiếng trước khi đi ngoại quốc. Theo như tôi nhớ Phạm Công Thiện được Hòa thượng Thích Minh Châu cử đi du học vào năm 1969 vì Phạm Công Thiện đã nổi tiếng từ năm 1965! Phạm Công Thiện nổi tiếng từ cuốn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”, cuốn này in năm 1965 tức là 4 năm trước khi ông ra nước ngoài.

Tôi còn nhớ khi ra cuốn sách thì tôi đã có dịp làm việc với Phạm Công Thiện vài tháng vào năm 1964 khi nhà thơ Nguyễn Vỹ xuất bản nhật báo Dân Ta. Trước đó nhà thơ Nguyễn Vỹ xuất bản tạp chí Phổ Thông thì Thiện đã viết trên Phổ Thông rồi. Khi tờ Dân Ta ra đời thì Nguyễn Vỹ nhờ Phạm Công Thiện về cộng tác lúc đó thì chúng tôi gặp nhau.”

Một kỳ tích thứ hai của ông là năm 18 tuổi, Phạm Công Thiện được mời giữ chức giảng viên môn Triết học của Viện Đại học Vạn Hạnh. Sau đó không lâu ông phụ trách soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1968 - 1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.



Khai phá Thiền Tông Phật giáo

Thật ra tác phẩm quan trọng nhất của ông là tập tiểu luận mang tên “Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư Thiền tông”. Tác phẩm này thật sự mở một cánh cửa cho Phật giáo Việt Nam khai phá mảnh đất Thiền Tông lúc bấy giờ còn quá mới mẻ đối với người Việt, với hơn 80% theo Phật Giáo. Nhà văn Viên Linh nói về tác động của tác phẩm này đối với Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ:

“Một trong những tác phẩm song song với “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” là cuốn “Bồ Đề Lạt Ma, tổ sư của Thiền Tông” in năm 1964. Phật giáo sau khi thay đổi chế độ thì phong trào Thiền Tông lan tràn khắp nơi từ người lớn cho tới người trẻ. Phạm Công Thiện tôi gọi là nhóm Vạn Hạnh, hay là những trí thức trẻ xuất gia, mà lớp đi tu trẻ lúc ấy thì gồm có Phạm Công Thiện, Tuệ Sĩ, Chơn Phát, Nguyễn Hữu Hiệu, Chơn Hạnh, Trần Vân Tiên, Ni cô Trí Hải và Bùi Giáng. Bùi Giáng thì nhiều tuổi hơn cả.

Nhóm này xông vào các tờ báo như tạp chí Tư Tưởng, hay là Giữ Thơm Quê Mẹ của ông Nhất Hạnh, cũng như những nhà xuất bản, dịch thuật nhiều tác phẩm Phật giáo ]như Hessman Hess hay Suzuki.[/b Trong lớp đó thì Phạm Công Thiện và Tuệ Sĩ là hai người có thể nói là dẫn đầu. tất cả những người này đều rất trẻ [b]lúc ấy chỉ khoảng 24 -25 tuổi đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa Phật Giáo Việt Nam thời kỳ đó.

Sau khi cuốn sách đó ra thì nổi lên một phong trào sinh viên đi tìm hiểu những khai phá mới sau một thời gian dài 9 năm dưới chế độ cũ. Khi thay đổi một chế độ thì chế độ kế tiếp người ta đi tìm cái gì phản nghịch lại quá khứ hay mở mang những chân trời mới.

Thiện chỉ là một thành phần trẻ xung kích lúc ấy chứ đầu não của sự thay đổi văn hóa lúc ấy là những bậc thầy ở Đại học Vạn Hạnh. Lúc đầu thì có Thượng tọa Nhất Hạnh, giáo sư Nguyễn Đăng Thục là những người ảnh hưởng nhiều nhất vì trước khi có đại học Vạn Hạnh thì những tờ báo Phật Giáo lúc ấy từ trường Cao đẳng Phật học ra gồm ông Nhất Hạnh, Hòa thượng Thanh Từ, Thanh Kiểm là những bậc thầy của Phật giáo lúc ấy.”



Nhà thơ

Bên cạnh những tác phẩm nặng về tư tưởng Phạm Công Thiện còn làm thơ và tác phẩm nổi tiếng khác của ông là “Ngày Sanh Của Rắn” đã được nhà xuất bản An Tiêm ấn hành lần đầu năm 1966 tại Sài Gòn, tác giả đã từ chối không cho tái bản trong suốt hơn 20 năm sau đó mà không cho biết lý do.

Tập thơ chia làm 12 khúc và khúc thứ 8 có lẽ hay và dễ cảm thụ nhất. Bài này đã được phổ thành ca khúc “Tôi đứng trên đồi mây trổ bông” (Lê Uyên Phương).



Khúc thứ 8


mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây

gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông

gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông




Nhà thơ Viên Linh thì lại tâm đắc với một bài thơ mới sáng tác sau này của Phạm Công Thiện, tựa bài thơ mang một từ vỏn vẹn là “Đi” mà ông đọc sau đây:


Đã đi rồi đã đi chưa?
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hà phương tịch mịch trùng khơi phong kiều
Chuẩn hình thiên đỉnh cô liêu
Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn
Đại huyền biến ngưỡng phiêu tôn
Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao
Áng nga nga nặng bạch hào
Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim.


Đây là bài thơ nói về sự ra đi của chính mình của Phạm Công Thiện. Bài thơ này mới in vào năm 2009 trong tập thơ mới nhất của anh tên “Trên đỉnh cao tất cả là im lặng.”

Nhận xét về cá tính của Phạm Công Thiện nhà thơ Viên Linh nói:

“Phạm Công Thiện là người Mỹ Tho trong nhóm bạn trẻ đó đều là người Bắc và Trung nhưng anh có tài và là người đa năng nên được rất nhiều người yêu mến. Phạm Công Thiện là người mang lại sự phát triển cho Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn sau năm 1963.”

Chúng tôi xin mượn lời của nhà thơ nói về mình như một lời từ giã ông, một nhân tài ngôn ngữ, tư tưởng và thi ca Việt Nam:

“Cái gì làm tôi không hiểu nổi, cái ấy làm tôi say sưa yêu dấu.”

và:

“Tôi yêu những gì khó khăn, những gì khô khan, những gì rắc rối. Tôi yêu đọc những quyển sách khó hiểu và nặng nề. Tôi thích đọc những quyển tiểu thuyết khô khan lượm thượm dài dòng, tôi ưa những cánh cửa đóng kín, những hàng rào cao.”



Chú Thích (thêm) :


I. Quan Điểm (của Phạm Công Thiện):

Phạm Công Thiện không coi mình là một triết gia, dù mọi người vẫn gọi ông với chức danh đó. Trên ngòi bút của mình, ông đã phủ nhận tất cả các triết gia: "Ngay đến Heraclite, Parmenide và Empédocle, bây giờ tao còn xem thường, tao coi ba tên ấy như là ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện đại, chưa nói đến Socrate, đó là một tên ngu dại nhất mà ta đã gặp trong đời sống tâm linh của ta". Ông coi những nghệ sĩ như Goethe, Dante như những thằng hề ngu xuẩn. Và đối với Sartre, Beauvoir: "Nếu họ muốn xin gặp tao, tao sẽ không cho gặp mà còn chửi vào mặt họ". Về thiền tông: "Tao đã gửi thiền tông vào một phong bì tối khẩn đề địa chỉ của bất cứ ngôi chùa nào trên thế giới". Về dạy học và các văn sĩ cùng thời: thời gian tao học ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học vì tao thấy những trường đại học mà tao học như Yale, Columbia chỉ toàn là nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn, ngay đến giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao có thể dạy họ hơn là họ dạy tao...Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê Su hiện ra đứng giảng trước mặt tao, tao cũng không nghe theo nữa. Tao là học trò của tao và chỉ có tao làm thầy cho tao. Tao không muốn làm thầy ai hết và cũng không để ai làm thầy tao. Còn các văn sĩ ở Sài Gòn, đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lặp đi lặp lại vô ý thức hay có ý hức: trí thức "mười lăm xu", ái quốc nhân đạo "ba mươi lăm xu", triết lý tôn giáo "bốn mươi lăm xu".

Ngoài ra cũng có thể nhắc đến những quan niệm của ông về tiếng Việt: "Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hegel hay Karl Marx, không cần phải đọc Khổng Tử và Lão Tử, không cần phải đọc Upanishads và Bhagavad Gita, chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nói lại tiếng Việt Nam và bỗng nhiên nhìn thấy rằng tất cả đạo lý triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sẵn trong vài ba tiếng Việt đơn sơ như CON và CÁI, như CHAY, CHÁY, CHÀY, CHẢY, CHẠY và còn biết bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta đã bỏ quên một cách ngu xuẩn.”




Việt là gì? Tính là gì? Hai câu hỏi này không phải là câu hỏi; tất cả mọi câu hỏi đều có sẵn mọi câu trả lời. Tính và Việt làm cho những câu hỏi trở thành những câu hỏi; Tính và Việt là chân trời mở rộng hé mở cho con người nhìn thấy tất cả những câu hỏi và đồng thời tất cả những câu trả lời, tất cả những gì có thể hỏi được và đồng thời tất cả những gì có thể trả lời được trên cuộc đời này, từ thượng cổ đến hiện tại, từ số không đến vô số và vô hạn.

Nước Việt Nam đang bị tàn phá đến cùng độ, dân Việt Nam bỗng nhiên và tự nhiên được tính phú cho chịu đựng và thể nhận tất cả nỗi điêu đứng đau đớn cùng cực của thế kỷ 20; năm chục năm cuối cùng của 2.000 năm sau Thiên chúa giáng sinh là thuộc về Mệnh của Việt Nam: tất cả những xáo trộn hỗn mang kinh hoàng nhất của nhân loại đang đập vào người Việt Nam; hố thẳm mở rộng và sâu; máu lửa từ trời đất đổ xuống và vọt lên; tất cả những khám phá vĩ đại nhất của văn hóa loài người từ mấy ngàn năm nay bỗng nhiên và tự nhiên được thể nhận tựu hình tại Việt Nam (Cộng sản và Tư bản; Phật giáo và Thiên chúa giáo, tôn giáo và chính trị, quốc tế và dân tộc, cơ khí và con người, lý thuyết và hành động, truyền thống và cách mạng, thiên mạng và nhân mạng, tự do và nô lệ, bạo động và bất bạo động, chiến tranh và hòa bình, thực tại và ảo tưởng, sự thật và giả tạo, nhập thế và xuất thế, xã hội và tu viện; cá nhân và quần chúng, lý tưởng và tuyệt vọng, mộng và thức, sống và chết).



Quan điểm về Triết học và Khoa học:


Triết lý là hỏi; triết học là hỏi về hỏi; trong chữ triết khi chiết tự, ta thấy có chữ khẩu; khẩu là miệng, miệng dùng để nói; nói là hỏi (và trả lời). Không bao giờ trả lời nếu không ai hỏi. Chỉ trả lời là khi có hỏi đi trước. Triết lý là hỏi; khoa học là trả lời. Khoa học là gì? Đây là câu hỏi: khoa học không thể trả lời câu hỏi này, bởi vì đây là câu hỏi về khoa học; mà bản chất của khoa học là chỉ trả lời; mà trả lời thì chỉ trả lời khi người khác hỏi; khoa học không thể hỏi khoa học, vì hỏi khoa học là phản bội khoa học, là không phải khoa học. Phận sự triết lý là hỏi; phận sự khoa học là trả lời. Người ta thường nói: Hỏi tức là trả lời. Câu ấy có nghĩa là triết lý bao trùm cả khoa học. Triết lý là bóng tối; khoa học là một ngọn đèn cầy yếu ớt; bóng tối vây phủ ngọn đèn, nhưng bóng đèn leo lét bắt đầu chiếu rọi ánh sáng yếu ớt lên không gian. Ánh sáng trả lời bóng tối. Bóng tối kêu gọi ánh sáng; bóng tối hỏi, ánh sáng liền trả lời. Ánh sáng chỉ là ánh sáng là nhờ vào bóng tối; ngược lại, bóng tối không thể nhờ vào ánh sáng; vì nếu bóng tối là nhờ vào ánh sáng thì ánh sáng sẽ phá hủy bóng tối và bóng tối sẽ không còn gọi là bóng tối nữa. Bóng tối là bóng tối, nhưng ánh sáng chỉ là ánh sáng là nhờ bóng tối; mặt trời chỉ là mặt trời là nhờ nằm trong không gian đen tối vô tận.

Triết lý là hỏi.


Triết học là hỏi về hỏi.

Khoa học là trả lời câu hỏi của triết lý, nhưng không thể trả lời về câu hỏi về câu hỏi
; vì nếu trả lời về câu hỏi về câu hỏi, thì sẽ bị triết lý hỏi về câu trả lời của khoa học về câu hỏi về câu hỏi; lúc bấy giờ khoa học lại trả lời nữa; nhưng câu trả lời này lại bị hỏi nữa. Cứ như thế mà đi mãi, từ hỏi đến trả lời, từ trả lời đến hỏi, cho đến vô tận, vô cùng không bao giờ dứt được, áp dụng infinitum.

Như thế cả triết lý và khoa học đều rơi vào ngõ cụt, ngõ bí, không lối thoát.





II. Tác phẩm (của Phạm Công Thiện):

Thơ, văn, tiểu luận

Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền tông (1964)
Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1965)
Ngày sinh của rắn (1967)
Trời tháng Tư (1966)
Im lặng hố thẳm (1967)
Hố thẳm của tư tưởng (1967)
Mặt Trời không bao giờ có thực (1967)
Bay đi những cơn Mưa Phùn (1970)
Ý thức bùng vỡ (1970)
Ði cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988)
Sự chuyển động toàn diện của tâm thức trong tư tưởng Phật Giáo (1994)
Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng
Triết lý Việt Nam về sự vượt biên (1995)
Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ Tát sáng rực khắp bốn phương Trời (1998)
Tinh tuý trong sáng của đạo lý Phật Giáo (1998)
Trên tất cả đỉnh cao là Im Lặng
Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử
Khai ngôn cho một câu hỏi dễ hiểu: Triết học là gì?
Ðối mặt với 1000 năm cô đơn của Nietzche.


Dịch

Jiddu Krishnamurti, Tự do đầu tiên và cuối cùng (1968)
Martin Heidegger, Về thể tính của chân lý (1968)
Martin Heidegger, Triết lý là gì? (1969)
Friedrich Nietzsche, Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi! (1969)
Nikos Kazantzakis, Rèn luyện tâm thuật huyền linh (1991)



Theo Nguyễn Hưng Quốc:

" .....Điều đặc biệt là sự ngưỡng mộ của nhiều người đối với Phạm Công Thiện không hề chấm hết sau năm 1975.
Ở hải ngoại, nhiều người vẫn tiếp tục đọc Phạm Công Thiện, đã đành. Ở trong nước, nhiều người, đặc biệt trong giới cầm bút, vẫn tiếp tục say mê Phạm Công Thiện. Trong những lần về Hà Nội, chuyện trò với bạn bè, một trong những điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là có khá nhiều nhà văn và nhà thơ ở miền Bắc cũng đọc Phạm Công Thiện rất kỹ. Và thích. Họ nhắc đến Phạm Công Thiện với một sự ngưỡng mộ không hề che giấu. Nhớ, có lần, một nhà thơ ở Hà Nội nói với tôi: Một tài năng và nhân cách kiểu như Phạm Công Thiện không hề có và không thể có ở miền Bắc. Trong cả tài năng lẫn nhân cách của ông đều có cái gì ngang tàng, phóng đãng, bạt mạng, bay bổng, vượt ra ngoài mọi khuôn phép và quy ước của xã hội, những điều hoàn toàn bị cấm kỵ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong giới cầm bút ở Sài Gòn hiện nay, sự ngưỡng mộ đối với Phạm Công Thiện lại càng rõ. Theo kinh nghiệm của tôi, từ những cuộc tán gẫu về văn nghệ với bạn bè ở Sài Gòn, nhắc đến bất cứ một tên tuổi nào trước 1975, ý kiến mỗi người mỗi khác; chỉ duy nhắc đến Phạm Công Thiện là dễ được mọi người đồng tình với nhau nhất. Đồng tình về sự uyên bác của ông. Đồng tình về cái tính nghệ sĩ hiếm có của ông.

Tuy nhiên, điều tôi chú ý và muốn nhấn mạnh nhất là: sự ngưỡng mộ giành cho Phạm Công Thiện kéo dài khá nhiều thế hệ. Những người đã trưởng thành trước 1975 ngưỡng mộ ông ư? Thì cũng dễ hiểu. Cả những người trưởng thành sau 1975, trong một hoàn cảnh lịch sử và khí quyển văn hóa hoàn toàn khác trước, vẫn say mê và đánh giá rất cao Phạm Công Thiện.

Trong loạt bài tưởng niệm Phạm Công Thiện trên Tiền Vệ mới đây, chúng ta bắt gặp nhiều lời phát biểu đầy ưu ái dành cho Phạm Công Thiện. Như, nhà thơ Inrasara (sinh năm 1957), trong bài “Chớp lửa thiêng Phạm Công Thiện & tuổi trẻ tôi”: “Tôi tin tưởng vào thiên tài. Với tôi, Phạm Công Thiện là thiên tài.” Hay, như nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh (sinh năm 1958), trong bài “Cái rực rỡ của tuyệt vọng”: “Trong tưởng tượng của tôi, nếu chọn 10 tác giả của Sài Gòn trước 1975, trong số đó sẽ có Phạm Công Thiện. Còn nếu chọn 5, trong số đó vẫn có Phạm Công Thiện. Và nếu chỉ chọn một, thì người đó, dĩ nhiên là Phạm Công Thiện.

Trong bài thơ “Những con đường và cơn mưa phùn tháng ba”, viết khi nghe tin Phạm Công Thiện qua đời, nhà thơ Khương Hà (sinh năm 1985) mở đầu bằng mấy câu:

em đừng nói với tôi về rừng
buổi chiều hình như đã mưa
cơn mưa phùn mãi mãi ở lại chứ không bay đi như cơn mưa phùn của Thiện
em cũng đừng nói với tôi về mặt trời
vốn không bao giờ có thực

Tôi chú ý đến mấy chữ “Cơn mưa phùn của Thiện”.

Tôi đã nghe khá nhiều nhà thơ trẻ ở Sài Gòn, thuộc lứa tuổi của Khương Hà (sinh sau năm 1980), mỗi lần nhắc đến Phạm Công Thiện đều chỉ nói “Thiện” như thế. Không có họ, không có tên đệm gì cả. Chỉ “Thiện” thôi.

Lúc đầu, thoạt nghe, thú thật, tôi hơi có chút ngỡ ngàng. Nhưng sau, ngẫm lại, lại thấy hay. Nó có cái gì gần gũi, thân mật và thân thiết lạ lùng. Một sự gần gũi, thân mật và thân thiết, thứ nhất, có tính xuyên-thế hệ, và thứ hai, không hề có ở bất cứ một người cầm bút nào khác. Không ai gọi Nguyễn Tuân là “Tuân”, Mai Thảo là “Thảo”, Thanh Tâm Tuyền là “Tuyền”, Trần Dần là “Dần”… như vậy.

Chỉ có Phạm Công Thiện.

Một mình Phạm Công Thiện."

Nhà Thơ, nhà nghiên cứu Triết học, Giảng sư về Thiền tông Phạm Công Thiện qua đời hôm 8/3/2011 tại Thành Phố Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.

.......................................................................................................................................................................................................


Thơ: Phạm Công Thiện

Nhà thơ Phạm công Thiện, thời trẻ, có lúc tu tại một Phật Viện Nha Trang. Một hôm anh về chơi với nhà văn Võ Hồng, ở lại mấy hôm, khi về Chùa, anh có thơ :

Mưa chiều thứ bảy, tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông.

Anh tâm đắc thường đọc cho chúng tôi nghe, và chúng tôi hiểu đại khái, nhưng chưng hửng khi nghe Phạm Công Thiện, mười năm sau, tự dịch câu thơ ra tiếng Pháp :

Je suis le Retour
Il fait Tard sur le Chemin
Sept jours après la pluie tombe
En haut
du Temple
L’arbre est le
Défleuri

Chúng tôi đã hiểu chung chung : thứ bảy là trước chủ nhật, cây khế là cây khế, ngọn đồi là ngọn đồi, nhưng qua bản dịch tiếng Pháp, thì nội hàm câu thơ không phải chỉ có vậy.
(Nguồn: Đặng Tiến)




(Internet)
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 13 Tháng 11 2013

..

Kỹ Thuật đúc tiền kim loại


Tiến Sĩ Trương Công Hiếu
(Quê Quán TIỀN GIANG)


***

Lễ Khánh Thành Nhà Máy Đúc Tiền

Tiến Sĩ TRƯƠNG CÔNG HIẾU


Hình ảnh
Toonie - Wikipedia, the free encyclopedia


VIDEO

http://www.youtube.com/watch?v=9m-fez84 ... e=youtu.be

Dr. Hieu C. Truong - Center of Excellence


Tiến Sĩ Trương Công Hiếu nguyên là cựu học sinh trường Jean-Jacques Rousseau ở Saigon, sau khi đậu Tú Tài II Ban Toán năm 1959, Ông được học bổng sang Hoa Kỳ để theo học ngành kỹ thuật tại trường Đại Học New York. Ông là sinh viên đậu Thủ Khoa khi lấy bằng kỹ sư và theo học lấy bằng Master về Kỹ Sư Hóa Học của trường Đại Học New York. Năm 1964 Ông trở về Việt Nam đi dạy ở trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự Hóa Học ở Phú Thọ và được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng của trường nầy. Sau 3 năm là giáo sư ở trường Hóa Học nói trên Ông trở lại Hoa Kỳ để lấy bằng Tiến Sỉ Kỹ Sư vào năm 1971.


Image
Giáo Sư Trương Công Hiếu và các sinh viên Trường Cao Đẳng Hóa Học Phú Thọ 1-Feb-1966



Sau 1971 Ông rời Mỹ sang định cư ở Canada đảm trách chức vụ kỹ sư tại nhiều công ty lớn:


* / Ông là Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Groupe Victoriaville, Québec, Công Ty sản xuất bàn ghế lớn nhất ở Québec, Canada.

*/ Ông làm Giám Đốc Sản Xuất của Công Ty Bombardier. Công Ty Bombardier chuyên sản xuất xe chạy trên tuyết (Snowmobile), xe chạy dưới đường hầm (Subway), máy bay Canadair Regional Jet (loại máy bay jet bay đường ngắn).

*/ Năm 1978 Ông vào làm việc cho Công Ty Đánh Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint). Nơi đây ông được giử nhiều trọng trách trông coi về phần kỹ thuật đánh tiền kim loại và đến năm 1980 Ông được bổ nhiệm làm Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Đánh Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada.



Năm 2006 Ông được đề cử làm Tổng Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu của Công Ty Đánh Tiền Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).


Royal Canadian Mint, Nhà Máy Đánh Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, là Tổng Công Ty thuộc sở hữu của chính phủ Canada, được thành lập vào năm 1908 tại Ottawa để sản xuất tiền kim loại cho Canada và tinh chế vàng ròng được vận chuyển từ rất nhiều mỏ vàng ở Quebec, Ontario, Manitoba, phía Bắc Alberta và British Columbia.

Nhà Máy Đánh Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại chuyên sản xuất tiền xu lưu hành và đồng phôi với cao độ dập tự động cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở đánh tiền ở Winnipeg. Những kỹ thuật chuyên sản xuất những loại tiền xu lưu niệm, những loại tiền kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim, palladium để đầu tư trên thế giới đều được sản xuất tại cơ sở lịch sử Ottawa.


Hình ảnh


Năm 2008 Canada tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Nhà Máy Đánh Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại (Royal Canadian Mint) để đánh dấu sự thành công của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada được nổi danh là một công ty hàng đầu của thế giới về những kỹ thuật và những phát minh hiện đại, những hiểu biết sâu rộng về khoa học và kỹ thuật đúc tiền.

Trong quyển sách: "Lịch Sử 100 Năm của Nhà Máy Đánh Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại", "ROYAL CANADIAN MINT 100 YEARS OF HISTORY" Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đánh tiền bằng những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.

Ngày nay những kỹ thuật hiện đại của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại do Ông phát minh đã thay đổi tất cả tiền lưu hành hiện tại của nước Canada. Ông là người đầu tiên và duy nhất ]phát minh kỹ thuật in màu trên tiền kim loại lưu hành giống như in mầu trên giấy bạc bằng cách sử dụng tia laser để đổi màu trên tiền kim loai... Những phát minh mới về kỹ thuật đánh tiền của Ông hiện nay đã tạo nhiều ảnh hưởng về hình thức và phương cách đánh tiền kim loại trên thế giới như: tinh chế vàng nguyên chất 4 số 9 (.9999) làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982, và kỹ thuật lọc vàng 5 số 9 (.99999), kỹ thuật mạ đa lớp trên thép ( kỹ thuật nầy đang được xữ dụng trong tiền kim loại của hơn 35 nước trên thế giới ).

Ngoài ra Ông cũng là người đã phát minh kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram), và dùng kiến thức DNA trong tiền lưu hành và vàng để bảo mật và định tính xác thực đồng tiền vàng ròng của Canada lưu hành ở bất cứ nơi nào trên thế giới qua hệ thống vệ tinh điện thoại di động (smartphone).

Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người có nhiều phát minh và sáng chế trong ngành kỹ thuật đánh tiền kim loại với hơn 10 bằng sáng chế đã được nhiều nước trên thế giới và Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại ghi nhận là quá xuất sắc.

Hiện nay tiền xu ở các nước như: Canada , Singapore, New Zealand, Barbados , Ghana, Ethiopia , Thailand, Philippines , Venezuela, Panama, Albania, United Arab Emirates… cũng đang dùng những kỹ thuật của Ông. Chính phủ Mỹ cũng đã bình chọn kỹ thuật của Ông để đưa vào áp dụng trong chương trinh tuyển lựa kim loại mới cho ngành tiền tệ của Mỹ, do Thượng và Hạ Nghị Viện Mỹ chấp thuận cho phép chánh phủ Obama thay đổi tiền tệ Mỹ trong tương lai.

Trong quyển sách: "Chuyện Kể Về Các Cuộc Triển Lãm Tiền Xu Quốc Tế", "STORY OF WORLD MONEY FAIR"
được xuất bản vào năm 2012, tác giả Albert M Beck, Chủ Tịch và Sáng Lập Viên của Hội Chợ Quốc Tế Tiền Tệ Berlin tại Đức đã viết và bình luận về Tiến Sĩ Trương Công Hiếu như sau:

"Trong 40 năm vừa qua người mà có công lao nhiều nhất trong sự tiến bộ về nghành đúc tiền trên thế giới, người đã đóng góp nhiều nhất về những kiến thức mới về nghành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến Sỉ Hieu C. Truong của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nã Đại".

Ông M. Beck cũng đưa thêm lời bình luận: " Tôi cho rằng ông Hieu C. Truong là người có công nhiều nhất đối với ngành kỹ thuật đánh tiền kim loại của thế giới. Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại cũng công nhận rằng Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người kỹ sư nổi tiếng nhất trên thế giới và là người hiểu biết nhiều nhất trong kỹ thuật đúc tiền. Theo tôi ai muốn biết kỹ thuật đánh tiền sẽ đi về hướng nào trong tương lai thì nên hỏi ông Hiếu ".


Để tiếp tục lưu danh là một Công Ty dẫn đầu thế giới về kỹ thuật đúc tiền và để thành công trong những lảnh vực phát triển các công nghệ mới hầu phục vụ ngành công nghiệp đúc tiền của thế giới và cũng để tôn vinh và ghi nhớ những công trạng của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu đối với Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, Royal Canadian Mint đã cho xây dựng một Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Sắc và Hiện Đại với ngân sách 10 triệu đô la tại Winnipeg và đặt tên cho cơ sở khảo cứu về kỹ thuật đánh tiền vừa mới xây dựng nầy là:


TRUNG TÂM KHẢO CỨU XUẤT SẮC Tiến Sĩ TRƯƠNG C. HIẾU
Dr. HIEU C. TRUONG CENTER OF EXCELLENCE

Centre d' excellence Hieu C. TRUONG, Ph.D.

Royal Canadian Mint, Winnipeg, Manitoba, Canada


Cơ sở khảo cứu nầy đã được khánh thành vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 cùng lúc với nhà máy mạ thứ hai được xây dựng với ngân sách 70 triệu đôla. Tất cả những cơ sở nầy là nơi mà những kỹ thuật mới nhất về đúc tiền trong lảnh vực khoa học, trong lảnh vực tự động hóa qua máy vi tính, trong kiến ​​thức mới nhất với điện tín vệ tinh, phát triển phần mềm, khoa học vật liệu trong việc quản lý tiền tệ, trong lảnh vực thông tin liên lạc bằng điện thoại hoán chuyển thói quen của người tiêu dùng ... tất cả những phát minh mới về tiền tệ của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu sẽ được đưa vào áp dụng và sẽ được phát triển tại nơi nầy để phục vụ cho các thế hệ trong tương lai.

Hình ảnh


Trung Tâm Khảo Cứu mới nầy cũng sẽ là nơi được dùng để đào tạo các kỹ sư, các nhà quản lý và các giám đốc của các Nhà Máy Đánh Tiền trên thế giới. Những người đi tu nghiệp sẽ được đưa đến Trung Tâm nầy để học các kỹ thuật căn bản cũng như các kỹ thuật hiện đại về đánh tiền, vì từ trước đến nay kỹ thuật nầy chưa từng được giảng dạy tại một trường đại học nào trên thế giới. Trung Tâm Khảo Cứu nầy cũng sẽ là nơi hội tụ của các kỹ sư, các nhà khảo cứu trên thế giới tìm đến với nhau để cùng nhau hợp tác khảo cứu về môn đúc tiền.


Ngoài việc phục vụ cho đất nước Canada, Tiến Sĩ Trương Công Hiếu cũng tham gia và ủng hộ các chương trình họat động của Cộng Đồng Việtnam tại Canada. Ông làm có vấn cho các tổ chức: Thể Thao Người Việt Bắc Mỹ lần thứ IX được tổ chức tại Ottawa năm 1981, Ủy Ban Lập Đền Kỹ Niệm của Liên Đoàn Hội Người Việt, bao gồm 11 Hội Người Việt của các địa phương khắp nước Canada, Ủy Ban xây dựng Trung Tâm Văn Lang, ngân sách do chánh phủ Ontario, Canada tài trợ. Trung Tâm Văn Lang là một chung cư gồm 80 căn hộ được xây dựng lên để nâng đở, trợ giúp cho những bô lão người Việt và những hộ gia đình có nguồn lợi tức thấp có được nơi ổn định cho đời sống. Ông cũng cộng tác với Hội Phật Giáo Người Việt xây dựng lên Chùa Từ Ân với kiến trúc thuần túy của một ngôi chùa Việt Nam tại thủ đô Ottawa.

***
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 05 Tháng 3 2014

.


PHẠM CÔNG THIỆN KỲ TUYỆT MỘT THIÊN TÀI


Nguyễn Tuấn

04/3/2014


Có những con người đến rồi đi qua mặt đất trần gian này như một cơn giông tố bão bùng sấm sét, gây chấn động kinh hồn, làm bùng vỡ một điều chi kỳ vĩ, tinh khôi trên bầu trời tâm thức nhân loại, Phạm Công Thiện là một con người độc đáo vô song như vậy.

Đấy là một thiền sư, triết gia, giáo sư, nhà văn, nghệ sĩ hay một thi sĩ kỳ tuyệt thiên tài như Henry Miller từ Hoa Kỳ đã phát biểu trong thư gởi Phạm Công Thiện đề ngày 8.8.1966 : “Mới ở tuổi 25 mà là khoa trưởng văn chương ở một đại học nổi tiếng trong xứ sở của ông. Điều đó thật phi thường quá, quả thật khó tin, thật như chuyện huyền thoại.” Đúng vậy, một con người đã đến và đi như huyền thoại giữa cuộc sống đầy biến loạn tang thương trên quê hương Việt Nam vào thập niên 1960 đến 1970.

Rồi từ đó, từ năm 1970, Phạm Công Thiện bất ngờ làm cuộc lữ lên đường qua Paris, tiếp tục chuyến đi tuyệt mù viễn xứ vào những phương trời xa lạ, ngút ngàn nhật nguyệt thiên thanh. “Anh đã ra đi từ đó, từ thời buổi hỗn mang. Trong từng khoảnh khắc sát na, từng quãng liên tục vi tế của hạt bụi, anh từ chối chính mình. Khi mọi người ca tụng anh như một thiên tài, anh vất bỏ thần tượng để đi như một tên lãng tử vô lại… Người lữ hành bước đi, từng con sóng của đại dương cuốn theo xóa sạch từng dấu chân đi. Lưu lại trong khách ảo ảnh tiền thân, phảng phất mùi hương và sắc màu quá khứ không phai nhạt.” Tuệ Sỹ giới thiệu như thế về Phạm Công Thiện, một tâm hồn hạo nhiên chi khí, một thi sĩ thượng thừa đã khơi nguồn mạch sáng tạo trào dâng ngất ngưởng, mở ra thể điệu phiêu bồng trên cung bậc văn chương, thiền học, triết lý, thi ca bát ngát dị thường.

Bước đi một mình một bóng, đơn thân độc mã quá đỗi phong trần gần 70 năm trời nay. Say gót mộng chuếnh choáng lang bạt kỳ hồ, lang thang lêu lổng suốt muôn chiều phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương. Lướt cánh đại bàng, tung hoành ngang dọc khắp năm châu bốn biển, thênh thang giữa thiên địa hoàn cầu. Đi và đi theo thể điệu Bùi Giáng rong chơi :

Đã đi đã đến cuối trời

Đã về như vẫn muôn đời đã đi

Đi về đi ở đi đi

Đi là đi biệt từ khi chưa về

Vào một chiều tháng 6, bắt đầu mùa hạ năm 1941, Phạm Công Thiện ra đời bên dòng sông thơ mộng Cửu Long, một dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ngút ngàn chảy xuống dọc ven bờ phố thị Mỹ Tho, một thị xã nhỏ nhắn, lặng lẽ hiền hòa ở miền Nam. Thi sĩ lớn lên từ đó, suốt ngày đêm cứ mặc sức mơ mộng rong chơi, tha hồ tắm sông lội nước, nằm ngắm mây trời bay lãng đãng xa xôi.

Rồi bất thình lình, đột ngột một hôm vụt đứng dậy, xuất hiện trên văn đàn Việt Nam như một thần đồng, một thiên tài lỗi lạc biết nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hán, Phạn, Pali, Tây Tạng, Tây Ban Nha… Năm 1957, mới 16 tuổi đã xuất bản Tự điển Anh ngữ tinh âm, 19, 20 tuổi viết Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, 23 tuổi, viết Tiểu luận Bồ Đề Đạt Ma, 25, 26, 27 tuổi, viết Hố thẳm tư tưởng, Im lặng hố thẳm, Ý thức bùng vỡ, Bay đi những cơn mưa phùn, Trời tháng tư, Ngày sinh của rắn, Mặt trời không bao giờ có thực, Nikos Kazantzaki, Rainer Maria Rilke, Henry Miller và dịch thuật từ tiếng Anh, tiếng Đức những tác giả vĩ đại Krishnamurti, Nietzsche, Heidegger, Rainer Maria Rilke, Nikos Kazantzaki … làm chấn động toàn thể giới văn nghệ sĩ trí thức Sài Gòn miền Nam thời bấy giờ.

Thời kỳ ấy, từ 1966 đến 1970 khi Phạm Công Thiện làm Khoa trưởng Văn khoa Đại học Vạn Hạnh, đồng thời là giám đốc soạn thảo Chương trình giảng dạy cho tất cả các phân khoa Xã hội Nhân văn và chủ biên tạp chí Tư Tưởng thì Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Tuệ Sỹ, Phạm Thiên Thư, Hoài Khanh, Nguyễn Đăng Thục, Trúc Thiên, Ngô Trọng Anh, Thạch Trung Giả, Lê Tôn Nghiêm, Doãn Quốc Sỹ, Nghiêm Xuân Hồng, Dương Thiệu Tống, Trần Ngọc Ninh, Trần Xuân Kiêm, Nguyễn Hữu Hiệu, Thích Nữ Trí Hải… cũng có mặt ở đó thường xuyên, là những cây bút cốt cán, nền móng trong tạp chí Tư Tưởng, tiếng nói của Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, do Thích Minh Châu làm Viện trưởng.

Trước đó, nhà thơ cũng đã từng làm những chuyến giang hồ tứ chiếng, xách túi thơ bầu rượu ngao du sơn thủy qua New York, California, Paris, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Ba Tư, Ý Đại Lợi rồi, từng diện kiến, tiếp xúc với những nhân vật kiệt xuất lừng lẫy trên thế giới như Krishnamurti ở Paris, Henry Miller ở Los Angles.

Văn chương nghệ thuật, triết lý thi ca, những tác giả kỳ cựu, những bậc cao thủ thời đó đều tập trung về Đại học Vạn Hạnh, tạo nên một bầu không khí sinh động vô vàn. Đang là thần tượng của đám sinh viên các đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt thì đùng một cái, Phạm Công Thiện bỏ ngang chức Khoa trưởng Văn khoa Đại học Vạn Hạnh, lên đường viễn phương hành, làm cuộc ra đi vô mục đích, nhảy tung vào hố thẳm tư tưởng không đáy bồng bềnh, lênh đênh qua tận bên kia bờ đại dương huyền ảo vào năm 29 tuổi, tức năm 1970. Đó cũng là năm cuộc chiến tranh Việt Nam đến độ khốc liệt, kinh hoàng, khủng khiếp nhất. trên khắp hai miền Nam Bắc phân tranh, đánh chiếm một cách tàn bạo, náo loạn, sụp đổ vô ngần.

Cất cánh phụng hoàng, thi sĩ bay vút đi xuyên qua gầm trời giông tố bão loạn đang đắm chìm giữa dòng sử lịch hỗn mang, tang tóc cuồng phong gầm thét dữ dằn, tan hoang thảm thiết, xô đổ xuống mịt mù âm u hỗn độn, vây khổn đầy bóng tối vô minh trong đêm dài điêu linh, trầm thống, đoạn trường.

Trước ngày khởi hành, thi nhân leo lên đồi Hải Đức, Nha Trang ( nơi ngày xưa vào năm 1963, chàng chán ngán cõi đời đi xuất gia, làm đệ tử thầy Trí Thủ ở đó với pháp danh Nguyên Tánh ) ngồi một mình trên đồi cao nhìn xuống biển cả muôn trùng vắng lặng, lắng hồn cô đơn, tịch mịch để nghe vọng về bao nỗi đời ly tán, đớn đau, bàng hoàng trong rưng rưng nhức nhối :

Hồi chuông chùa vọng luân hồi

Chim chiền chiện hót ngang trời đau thương

Trùng dương nằm đợi vô thường

Đồi cao bạt gió hai đường âm u

Âm u hai đường, đông tây đôi ngã thê lương, còn chi đâu mà nói nữa. Thôi thì cánh chim ngàn cứ tung bay cho hết bầu trời tính mệnh bao la của mình. “Bổn phận của mi là lên đường đi đến hố thẳm, một cách im lặng, rộng lượng và không hy vọng.” Văn hào Nikos Kazantzaki đã nói như vậy, cũng như triết gia vĩ đại Heidegger làm những câu thơ như âm thầm khích lệ thi sĩ lên đường :

“Bước tới và chịu đựng

Sự thất bại và câu hỏi

Trung thành với lối đi duy nhất của mi.”

Thi sĩ Phạm Công Thiện đã cảm nhận chân thiết lời thơ đó, nên hùng tâm tráng khí, im lặng thực hiện một cách mãnh liệt cuộc lữ phi thường, khởi sự tấu khúc độc hành ca trên lộ trình hướng về hố thẳm uyên mặc hay uyên nguyên khơi mở. Cuộc lữ dữ dội bi tráng như thi sĩ Rimbaud : “Tiến lên ! Đi, gánh nặng, sa mạc, chán chường và cuồng nộ.” Buông tay vào hố thẳm, mở ra những phương trời hoằng viễn uyên tư như Rimbaud, Henry Miller, Nietzsche, như Hoelderlin, Whitman, Krishnamurti, như Shakespeare, Kierkegaard, Nijinsky, như Blaise Cendrars, William Blake, Paul Klee, như Thoreau, Emerson, Faulkner, như Wolfe, Giono, Ce1line, như Etkhart, Goethe, Spengler, như Hermann Hesse, Alan Watts, James Joyce, như Hemingway, Lawrence, Leopardi, như Nerval, Tolstoi, Yeats, như Milarepa, Van Gogh, Vivekananda, như Trang Tử, Long Thọ, Bồ Đề Đạt Ma, như Huệ Năng, Lâm Tế, Tuệ Trung Thượng Sỹ, như Lý Bạch, Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử… những đồng thanh tương ứng với thi nhân nên luôn luôn xuất thần, ngất trời túy lúy, phóng cuồng phiêu đãng hoan say. Đó là những cuộc đi vô định, vô sở trú, chất ngất trên tuyệt đỉnh núi cao và hun hút tận nguồn sâu hố thẳm tâm linh, vừa bừng bừng thần khí rực ngời lửa tim hồn cháy vừa ầm ầm cuồng nộ, trào tuôn lai láng như sóng vỗ đại dương. Cháy và chảy, cháy và chảy mãi trong hồn, như một lần lúc 24 tuổi, nhà thơ đã từng nhắn gởi cho giới trẻ thanh niên Việt Nam : “Gởi một người đọc không quen, cùng cháy một thứ lửa thiêng như tôi, cùng được nuôi bằng một thứ nước điên nào đó chảy trôi như tôi, cùng sống như tôi đang sống : Cháy và chảy, cháy và chảy không ngừng…”*

Hừng hực ngọn lửa thiêng suốt ngày đêm bừng cháy trong trái tim, đồng thời một dòng sông xanh ngát luôn tuôn chảy bất tuyệt ở trong hồn, nên chàng thi sĩ đã hào hứng lên đường ra đi từ dạo đó, từ thuở nào vô thường dâu bể loạn mù xa. Giã từ nắng quái chiều tà. Biệt ly túy lúy cuồng ca lộn nhào. Một hồn bay vút trăng sao. Chao ơi ! Bái lạy máu trào mộng rơi :

Tôi đi đông chìm

Trời âm u thung lũng khô

Nhiều mây chim bay không nổi

Tôi đi

Dưới kia sụp đổ

Núi Cấm nổ tôi ra

Cửu Long ca từ Tây Tạng

Dòng sông Cửu Long bắt nguồn từ vùng Kham tận cao nguyên Tây Tạng, phát xuất từ rặng núi Dunhbudsgra chảy ngược lại vùng hoang dã Chlamdo, Tshawagang, Jang, Ju rồi trút đổ ào xuống chập chùng lục địa Châu Á, chảy gập ghềnh quanh sườn đồi chất ngất Vân Nam qua xứ miền Miến Điện, Lào và thơ mộng bồng bềnh chảy xuôi dòng cuồn cuộn cuốn lũ phù sa qua Mỹ Tho, Việt Nam, thành phố quê nhả một thời tuổi nhỏ của thi sĩ, rồi cuối cùng tuôn tràn ra đại hải trùng dương. Chính dòng sông Cửu Long ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn thi nhân nên chàng luôn mang theo rạt rào trôi chảy suốt trong lòng, còn ngoài ra không biết hồi thơ ấu có gì ấn tượng chăng mà chẳng bao giờ nghe nhắc tới, chỉ biết rằng, thuở mới 13, 14 tuổi, chàng đã có những bài tiểu luận tham gia cộng tác với các tạp chí Phổ Thông, Dân Ta, Bông Lúa, Giữ Thơm Quê Mẹ, Văn, Văn Nghệ, Bách Khoa…Những bài viết triết lý, thi ca, viết về các nhà thơ, nhà văn Đông Tây kim cổ, khiến Nguyễn Vỹ ( chủ bút tạp chí Phổ Thông, Dân Ta ) và học giả Nguyễn Hiến Lê đều nể phục, xem là thần đồng vô cùng hy hữu trong thời hiện đại. Phải chăng, đó là sự tái sinh của một bậc Bồ tát đại trí tuệ nào đó ? Có nhiều người nêu lên nghi vấn như vậy.

Thế rồi, bất thần như ngôi sao băng kỳ bí, khi danh tiếng lẫy lừng khắp chốn thì bỗng nhiên chàng buông bỏ hết sạch sành sanh, vất lại sau lưng những sự ngưỡng mộ bái phục của thiên hạ, người đời, một mình làm cuộc phiêu lưu như cánh nhạn lướt ngang trời, vút bay qua Paris kinh đô Pháp quốc. Không phải để hưởng thụ vinh hoa phú quý gì mà trái lại, tự nguyện sống lênh đênh bềnh bồng, không nhà không cửa tựa như nhánh lục bình trôi phập phềnh trên dòng sông Seine xanh biếc mộng :

Mộng ở đầu cây mơ lá cây

Dòng sông ngừng chảy đợi mây bay

Kêu nhau nhỏ nhẹ sầu năm ấy

Chim hải hồ bay trắng tháng ngày

Ngày tháng lang bạt kỳ hồ ấy, giống như Rimbaud dấn thân vào sa mạc Havar hòa mình sống chung với thổ dân, tự nguyện làm kẻ du mục qua Một mùa địa ngục của trần gian, Phạm Công Thiện cũng sống lang thang bạt mạng như thế, cũng đi từ bế tắc này đến tuyệt lộ khác như chính chàng tâm sự : “Giai đoạn sống ở Paris dạo đó là giai đoạn bế tắc nhất trong đời tôi. Một ngàn chữ không cuốn theo bước đi tôi, không tiền, không nhà, không nghề nghiệp, không tình yêu, không tương lai, không gì cả. Thế mà tôi vẫn sung sướng nhất, giai đoạn ấy là giai đoạn sướng nhất, đẹp nhất, thơ mộng nhất trong đời tôi. Tôi là một số không to tướng di động giữa những đường phố Paris. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi hiểu được thế nào là đói là nghèo là khổ là tuyệt vọng. Có nhịn đói cả tuần lễ, có đi lê lết khắp đường phố Paris suốt đêm mưa để tìm chỗ ngủ khô sau mấy hiên nhà, có lén lút lẫn trốn mấy người cảnh sát Pháp vì sợ họ bắt nhốt về tội vô gia cư, vô nghề nghiệp, có ăn mày từng điếu thuốc, từng khúc bánh mì khô, có chịu lạnh lộ thiên giữa mùa đông tuyết phủ ở Paris, có đứng dựa ngủ dưới mái hiên ngoài rạp hát ở Montmartre, có được chia sẻ từng tờ giấy nhật trình với bọn ăn mày clochards để trải ngủ sau hè phố qua đêm lạnh thì mới hiểu thế nào là bế tắc, là thất bại, là đói lạnh….Từ bế tắc này đến bế tắc khác, nhưng tôi vẫn cảm thấy rằng tôi đã sống đến độ vỡ đê, yêu đời đến độ gần đứt mạch máu. Vâng, trong cuộc đời hai mươi tám năm trên trái đất này, chưa bao giờ tâm hồn tôi thanh bình, trong sạch xanh lơ như bầu trời mùa hạ, như những ngày sống ở Paris dạo đó.”**

Thời gian vừa bi đát vừa hùng tráng ấy, rất may sau đó, chàng sống nhờ sự giúp đỡ tận tình của nhà thơ Thi Vũ, Nh. Tay Ngàn, họa sĩ Trần Quang Hiếu, Vĩnh Ấn rất nhiều và đặc biệt nhất là nhà văn Henry Miller đã cưu mang chàng hết lòng, bằng những tấm ngân phiếu gởi từ Hoa Kỳ cũng như nàng thơ Lê Khắc Thanh Hoài, một tiên nữ định mệnh đã đến với chàng, tự nguyện sống chung một cách gần gũi cận kề, gắn bó, mật thiết vô cùng suốt 13 năm trường đằng đẵng. Nhờ đó mà chàng có thời giờ nghiên cứu, hoàn thành tốt nghiệp Tiến sĩ triết học tại đại học Sorbonne, rồi sau đó giảng dạy triết học Tây phương tại đại học Toulouse ở Pháp quốc.

Thế nhưng, lại một lần nữa, từ trên tuyệt đỉnh vinh quang, đang là thần tượng của đám sinh viên Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật… ngưỡng mộ vô cùng, chàng lại vất bỏ giảng đường đại học để ra đi như ngày xưa đã vất bỏ lại sau lưng đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn. Thật là quá đỗi lạ lùng, giống như triết gia Nietzsche rời bỏ đại học Bases để lên vùng thượng sơn làm ẩn sĩ, suốt mười năm trời im lặng nằm ngắm mây trời. Ơi chao ! Hơi thở vỡ bùng. Từ vô thủy đến vô chung cõi về. Nàng thơ huyền mộng đê mê. Thế thôi chuyển cuộc muôn bề chia phôi :

Đã đi thì đã đi rồi

Thượng phương trùng điệp thấy gì nữa đâu

Hạ phương ngày tháng bể dâu

Sắt son tình cũ phượng cầu túy hương

Có còn chi nữa mà thương

Buổi trưa nằm ngủ thấy nường năm xưa

Đã đi rồi đã đi chưa

Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời

Đã đi mất hẳn đi rồi

Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều

Chuyển hình trên đỉnh cô liêu

Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn

Đại Huyền biến ngưỡng triều tôn

Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao

Án nga nga nẵng bạch hào

Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim

Trái tim bốc lửa tam muội làm cháy tan hết những luật lệ phép tắc, những lề thói khuôn khổ, lối mòn cũ rích của xã hội máy móc khô khan, cạn kiệt hết bầu sinh khí, chàng thi sĩ muốn lên đường khai phá một con đường sáng tạo mới lạ hơn. Đứng trên tuyệt đỉnh cô liêu, một chiều hoang vu nọ, chàng bỗng nghe văng vẳng những lời ẩn ngữ, mật ngôn huyền bí và chợt thấy thấp thoáng tiền kiếp mình ở tận xứ miền tuyết trắng Tây Tạng hoang sơ. Biết mình là hành giả Mật tông trong các dãy hang động trên tuyệt mù Hy Mã Lạp Sơn nên trái tim Bát Nhã ứng hiện những nàng tiên huyền diệu, dạo khúc cung đàn mười tám tiếng lòng Không Định rung ngân, khiến cho thi sĩ chỉ còn biết đọc thần chú lim dim dung nhiếp :

Năm nàng thiên nữ tôn nghiêm

Trùng quan ngũ sắc ứng điềm tán không

Án đa la tịch mịch hồng

Mười phương xuất hiện những đồng sinh thiên

Bát Nhã là gái thiên tiên

Khoan thai cởi áo mây hiền trên cao

Gió lùa thơm tóc tơ đào

Thập bát Không Định tiêu dao tiếng đàn

Trời mưa chim ngủ trên ngàn

Sắt son tình cũ nước tràn sang sông

Tiếng đàn tiêu dao vô thanh mà vang ngân bất tận lan dài theo cuộc lữ kỳ cùng, rung hồn rúng chuyển gió sương ngàn khắp vùng thung lũng sơn khê. Ơi chao ! Một đóa hồng hoa vụt trổ im lìm như những nàng tiên nữ giáng trần sà nhẹ vào hồn tim, để cho thi nhân xuất thần bay phiêu linh, phiêu hốt trong bồi hồi rộn rã phập phồng :

Đã đi rồi có đi không

Thượng phương trùng điệp cỏ hồng thúy hương

Đi đâu mà lại lên đường

Hạ phương còn gặp cô nường năm xưa

Đã đi rồi đã đi chưa

Sắt son triều ngưỡng tình xưa hiện về

Phượng cầu ngũ lĩnh sơn khê

Một bông hồng nở bốn bề lặng im

Năm nàng tiên đậu vào tim

Âm nhập dương khởi lim dim xuất thần

Phải chăng, năm nàng tiên nữ là ẩn ngữ ám chỉ cho năm nàng thơ đã từng xuất hiện, đi qua một cách cụ thể trong đời chàng ? Có thể là như thế, phải không hỡi những Hương, Uyên, Hoài, Loan, Sương ? Củng có lẽ không phải vậy, nhưng dẫu sao thì dẫu, cuộc đời của thi nhân vẫn dạt dào cảm hứng từ những nàng thơ trên mặt đất trần gian này. Tình yêu vẫn là tiếng lòng muôn thuở, là chất liệu cho thi sĩ huy hoàng sáng tạo vô biên như triết gia sấm sét Nietzsche : “Những trực kiến, nhập kiến sâu thẳm nhất đều xuất phát từ tình yêu.” Hay như đạo sĩ Osho : “Tình yêu có thể tạo ra thiên đường ngay bây giờ và ở đây. Đây là cốt tủy thông điệp của tôi :Hãy thương yêu nhiều hơn nữa, nhiều đến mức mà bản thân bạn đơn giản trở thành một dòng suối tình yêu mà không là gì khác.” Còn Phạm Công Thiện thì : “Nói đến tình yêu tình dục thì mọi người đều run sợ. Đạo sư Krishnamurti đã hỏi một câu rất sâu sắc : “Tại sao chúng ta biến tình dục thành ra một vấn đề ?” Tất cả đều trở thành vấn đề, ngay cả tình dục cũng trở thành vấn đề. Tại sao không để tình dục phát triển tự nhiên với tinh yêu tình thương như đóa hồng hé mở với giọt sương mai ? Tình dục không phải chỉ là cảm giác, tình dục là sự tuôn chảy tự nhiên từ Nguồn Suối Tình Thương Bao La của Sự Sống.”*** Vâng, đúng là như thế, tình yêu tình dục cùng chung một suối nguồn tuôn chảy mênh mông. Tình thương, tình yêu dịu dàng phát sinh, khởi sự từ Chân Thiện Mỹ, từ cái đẹp trinh tuyền nguyên sơ, tiêu biểu từ những thục nữ, thuyền quyên, những nàng thơ, tiên nữ, duyên dáng mỹ miều, yểu điệu hồng nhan mà thi nhân bất ngờ tao ngộ trùng phùng :

Càng xa càng mông lung

Tới gần vẫn lạ lùng

Nhắm mắt sao lạ quá

Mở ra ồ không cùng

Linh hồn con gái, phải chăng là nhiệm huyền thi vị như vậy, khiến cho chàng thi sĩ mơ màng mộng mị trong từng trận trận chiêm bao ảo dị dập dìu :

Một người nằm thở quạnh hiu

Mơ mòng thiếu nữ cô liêu giáng trần

Gió khuya đập cửa bất thần

Giựt mình thức dậy mấy lần chiêm bao

Có nàng tiên dáng cao cao

Nước da mòng mọng hao hao bông hường

Cái đêm lành lạnh chiếu giường

Gió lùa hương lạ bên đường tạt qua

Đêm qua thương nhớ người ta

Tối nay tơ tưởng thiên hà bơ vơ

Tháng ngày tôi nhớ bâng quơ

Những nàng con gái bao giờ gặp đâu

Gặp nhau bao giờ chưa hỡi những sắc nước hương trời, những kỳ hoa dị thảo, những hương đồng cỏ nội khắp lâm tuyền, biên ải ngoài bến gió bờ sương ở mọi chốn muôn nơi, hỡi Sương, Loan, Hoài, Uyên, Hương… diễm tuyệt một thuở nào quyến rũ du dương tận xứ miền Liên Chiểu hay ngút ngàn sương khói Đà Lạt quá mang mang :

Bầy chim bạc má gọi đàn

Thương nhau gặp lại trên ngàn đỉnh cao

Trở về Đà Lạt ngó đào

Ghé thăm Liên Chiểu thuở nào yêu nhau

Yêu nhau cảm động dường nào ơi xao xuyến, xốn xang, rộn ràng trong tiếng hát liêu trai của nàng ca sĩ yếu gầy mà thi nhân hơn một lần say đắm trầm mê tha thiết trong hồn lệ rưng rưng :

Cô đơn về trắng sương rừng

Anh nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm

Khuya buồn tủi nhục môi em

Mưa run lặng lẽ bên thềm bơ vơ

Tiếng ru vàng xuống đôi bờ

Hoang vu anh đứng đợi chờ chim kêu

Tay gầy ôm chặt tình yêu

Anh về phố gục những chiều hư vô

Đời đi trên những nấm mồ

Đau thương em hát cơ hồ khăn tang

Phố chiều thả bước lang thang

Như con sông nhỏ mơ màng biển xanh

Nửa đêm khói đốt đời anh

Yêu em câm lặng khô cành thu đông

Lời em như một dòng sông

Đôi bờ anh đứng giữa lòng hoa niên

Mưa chiều nước chảy triền miên

Một con chim dại lạc miền hoang lương

Về đâu thương những con đường

Lê thê phố cũ nghe buồn hè xưa

Hè xưa phố cũ tuy buồn mà vẫn có một vẻ đẹp não nùng của thứ tình yêu diêu mang lãng đãng. Chàng thi sĩ đa tình đa cảm, trót vương mang nàng thơ gầy guộc có đôi mắt sầu mộng u huyền trên cao nguyên nghi ngút sương mù bay trắng cả rừng thông, suốt mười năm trời đằng đẵng mộng mơ, nhớ thương tưởng vọng trong da diết ngậm ngùi :

Mười năm qua gió thổi đồi tây

Tôi long đong theo bóng chim gầy

Một sớm em về theo giấc ngủ

Bông trời bay trắng cả rừng cây

Gió thổi đồi tây hay đồi đông

Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng

Trong mơ em vẫn còn bên cửa

Tôi đứng trên đồi mây trổ bông

Gió thổi đồi thu qua đồi thông

Mưa hạ ly hương nước ngược dòng

Tôi đau trong tiếng gà xơ xác

Một sớm bông hồng nở cửa đông

Dòng thơ phơ phất trôi đi, dĩ nhiên là ẩn ngữ chập chùng, tha hồ mỗi người hiểu ý thơ mỗi cách. Phải chăng đó là cõi mộng hư ảo tự thuở nào xa ngút ở trên rừng Phi Nôm Đà Lạt hay dưới vùng biển Vạn Giã Nha Trang ? Ơi nhớ một chiều mưa thấp thoáng tần ngần, thi nhân rời bãi biển cát trắng, gõ nhịp bước đơn hành đi về leo lên sườn đồi cao Hải Đức, bỗng sực thấy cây khế bừng rộ hoa tim tím bên triền dốc đá hoang thưa :

Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn

Cây khế đồi cao trổ hết bông

Hoa nở rồi tàn cũng như những nàng con gái mộng mơ đến rồi đi. Tuy vậy vẫn còn phảng phất những làn hương quyến rũ mị kỳ cứ ám ảnh chập chờn thoang thoảng mãi huyền mộng thơm tho trên suối tóc dịu mềm :

Đêm tối nào ru mái tóc em

Mộng gì lạ thấy quá êm đềm

Em nằm thở nhẹ như bươm bườm

Hai má thơm nồng lại nóng thêm

Anh ngủ dịu hiền trong giấc mơ

Rồi em vờ ngủ rất thờ ơ

Chờ khuya em khẽ bàn tay mộng

Choàng nhẹ vai anh bao phím tơ

Con bướm xoay mòng bay đi đâu

Mùa đông ôm nhau trên thang cầu

Em ngồi anh hát cười vang xóm

Bồ câu đập cánh bên kia lầu

Bồ câu, bươm bướm, chim chóc bay lượn giữa trời thơ đất mộng vàng xanh óng ả những cụm tơ trời long lanh lấp lánh quá đỗi lung linh :

Tình anh lồng lộng

Chim bay rợp đồng

Đàn trắng căng buồm

Thấp thoáng bên sông

Một con sông dài

Sông Hoài sông Hoài

Sông Hoài ở đây không phải là sông Hoài ở phố cổ Hội An mà chính là nàng thơ Thanh Hoài, một tiên nữ giáng trần, gái Huế, một nhạc sĩ dương cầm, viết văn làm thơ, đã tự nguyện sống gần gũi với chàng như vợ chồng suốt hơn mười năm trời ở Paris. Đó là cuộc tình lâm ly đầy tình tiết ly kỳ hấp dẫn mà Thanh Hoài đã viết lại thành cuốn tiểu thuyết Chuyện một người đàn bà… năm con. Chúng ta hãy lắng nghe nàng thơ nói về Phạm Công Thiện : “Chàng tìm đến tình yêu cũng như chàng tìm đến tôn giáo. Tình yêu cũng phải thần thánh và linh thiêng. Như giọt nước cam lồ tưới tẩm làm tan biến khổ não ưu phiền. Như sức mạnh của thần chú xô người qua bên kia bờ giải thoát. Tình yêu cũng phải có mãnh lực đó. Mãnh lực chuyển hóa và thăng hoa.” Gần kết thúc cuốn truyện dài, chàng nói với nàng : “Ở một nơi chốn hỗn loạn, ở nơi tận cùng của khổ đau và tuyệt vọng mà tiếng nhạc của em vẫn có thể vang lên những âm thanh dịu dàng đằm thắm, bay bổng cao vút tận chân trời, từ cái điều Không Thể mà vẫn Có Thể, hãy gọi đó là Giai Điệu Của Cái Điều Không Thể. Từ đó, cố vượt ra ngoài tầm nhìn và sự hiểu biết cạn cợt của chính mình. Điều mình thấy như vậy, biết như vậy nhưng không chắc đã là như vậy. Hãy có cái nhìn và sự hiểu biết từ cái điều Không Thể mà Có Thể đó.”****

Cho nên dù rất mặn nồng gắn bó nhưng rồi cũng ngậm ngùi chia tay trong lặng lẽ âm thầm. Đã qua rồi thời gian hoa mộng ấy, kể từ năm 1983, chàng thi sĩ tự ý khước từ danh vọng cao sang, bước xuống giảng đường đại học Toulouse, từ bỏ kinh thành Paris hoa lệ để bay vèo qua Hoa Kỳ, tự nguyện dấn thân vào phương trời vô sở trú, vô sở cầu, vô sở đắc, chẳng thể nghĩ bàn. Chàng lại tiếp tục đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất. Đường của thơ là những nẻo đường ngược gió, là quán trọ, hiên chùa tá túc qua đêm. Đêm và ngày trôi qua như giấc mộng ban đầu. Thấu thị nhân sinh, tình yêu đã thăng hoa thành tình thương vô hạn trổ bừng đóa Bồ đề tâm thâm cảm diệu thường.

Thầm cảm nhận thấm thía hương vị mị kỳ của tình yêu tương đối và tuyệt đối, rồi từ đó, thi nhân tự nhiên như nhiên chuyển dần sang ngạt ngào tuyệt bích tình thương. Tình thương yêu tối thượng như mây lan tỏa khắp mười phương, chan chứa trộn lẫn trong giọng chim ca lăng tần già hòa quyện tiếng kêu thanh tao, thánh thót nhập hồn sương khói vô vi trở thành Bồ đề tâm thâm viễn miên trường :

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy cúng dường

Lôi bồ đề tâm dậy

Chấn động khắp mười phương

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy vô lượng

Lôi bồ đề tâm dậy

Địa động cả mười phương

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy đại dương

Lôi bồ đề tâm dậy

Sấm sét nổ mười phương

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy bất thường

Lôi bồ đề tâm dậy

Gió bão lặng mười phương

Khi thi nhân quỳ xuống, sụp lạy tất cả muôn loài vạn vật, đất trời thiên vạn cổ là lúc Bồ đề tâm bừng dậy tỏa chiếu hào quang rạng rỡ khắp muôn phương. Đó cũng là hành động mà Bồ tát Thường Bất Khinh vẫn thường thực hiện suốt bình sinh không hề mệt mỏi. Bồ đề tâm chính là Đại bi tâm, có thể làm sụp đổ tất cả mọi ác pháp. Phạm Công Thiện từ bao giờ đến bây giờ vẫn thường xuyên miên mật hít thở trong bầu khí hậu phong nhiêu ấy, hơi thở biến thành hành động sụp lạy là đã nhập vào vô ngã, vắng lặng cái tôi, vắng lặng mọi so đo chân giả, xa lìa mọi giả danh, tham chấp, chỉ còn cái đang là tỏa sáng ánh thái dương :

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy vô thường

Lôi bồ đề tâm dậy

Sấm chẻ đứt Kim Cương

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy lên đường

Lôi bồ đề tâm dậy

Sấm trời động thượng phương

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy thiên hương

Bồ đề tâm tăng trưởng

Bông quỳnh nở bất thường

Chim ca lăng kêu sương

Tôi sụp lạy vách tường

Bồ đề tâm quy ngưỡng

Bông trang trổ đầu đường

Bồ đề tâm là sự tỉnh thức toàn diện của tình thương vô hạn. Sức mạnh vĩ đại nhất trên tất cả mọi sức mạnh của nhân loại. Đó là tình thương yêu diệu dụng vô điều kiện mà thi sĩ thiền sư Phạm Công Thiện đã thể hiện một cách ngoạn mục trên cuộc lữ tuyệt cùng.

Chúng ta hãy nghe chàng nói : “Từ năm 1970 cho đến 1983, tôi đã sống ở Do Thái, rồi ở Đức quốc và ở lâu dài tại Pháp quốc. Đến năm 1983 qua một cơn chuyển động toàn diện của tâm thức viễn ly, tôi đã trở lại Hoa Kỳ, trở lại thành phố Los Angeles sau một thời gian xa vắng gần hai mươi năm. Từ năm 1983 cho đến năm 1994, trên mười một năm nay, lại qua nhiều cơn chuyển động toàn diện liên tục của tâm thức viễn ly, tôi vẫn tiếp tục sống ở thành phố Los Angeles, sau vài chuyến lui về vùng đồi núi im lặng ở Úc Châu, tôi vẫn trở lại với thành phố Los Angeles như trở về tập sống hồn nhiên tự tại với những cơn động đất thường xuyên của đời mình.

Cái “tôi” ở trên đã trở thành một cái gì khác. Không biết là cái gì ? Cũng chẳng bận tâm biết đến làm gì, chỉ biết ở đây và ở đó vẫn còn động đậy nhẹ nhàng những bước chân thầm kín, những bước chân lặng lẽ, thong dong bình thản trở về sự im lặng.”*****

Trên ngõ về im lặng, im lặng vô ngần giữa bốn bề, mười phương yên tịnh tịch nhiên. Xuất thần nhập cốt, hưng phấn hân hoan rạt rào, vô cùng cảm hứng là những trạng thái kỳ diệu mà Phạm Công Thiện thỉnh thoảng rơi vào một cách phiêu diêu, ngay từ lúc còn tuổi thiếu niên, như một thời sống bồng tênh trên núi rừng phố hoa Đà Lạt, một chiều hiu hắt nọ, chàng choáng váng, sững sờ khi bắt gặp Thiền tông giữa cơn mưa gió bão bùng : “Tôi quỳ xuống lạy lung tung, tôi lạy gió, lạy mưa, lạy nắng, lạy không khí, lạy cái ghế, lạy cái bàn, lạy vách tường, lạy đóa hoa trong ly, lạy cái giường. Ồ tôi hạnh phúc, sung sướng, yêu đời, yêu cả vũ trụ. Cảm tạ hết mọi đau khổ, mọi bất công, mọi bi kịch, cảm tạ hết, cảm tạ bất tận. Tôi đã tìm được tất cả những gì đã đánh mất từ mấy ngàn năm nay.”******

Hay một lần nơi thành phố Garden Grove ở California, trong căn phòng trống trải cô tịch vô vi, thi nhân cũng nhập diệu, thấy mình hóa thân trùng trùng giữa mười phương pháp giới vô ngần : “Trong tận cùng sâu thẳm của kiếp người, nó không khác người khác, nó là tất cả mọi người đang di động trên trái đất, nó là tất cả những định tinh và hành tinh, nó là con sâu, cái kiến, con bướm, con quạ, trái cam, chiếc lá. Nó là cơn gió thổi vèo qua kẹt cửa, nó là luồng ánh sáng và đêm tối…Nó là một cảm giác, một tư tưởng, một ý tưởng và một cử chỉ. Nó là mỗi chữ, mỗi tiếng, mỗi lời trong tất cả ngôn ngữ loài người…Nó là sự trống không mênh mông của mười tám cái không tràn trề của Trí Tuệ Bát Nhã sang sông…Nó là sức mạnh vũ bão của tất cả năng lực vũ trụ, sự tập trung tư tưởng mãnh liệt nhất của tất cả tư tưởng nhân loại, tập thành khủng khiếp của tất cả đạo lý và triết lý…Nó là nguyên lý đồng nhất tối thượng, đồng thời là sự chuyển hóa tối hậu của chính nguyên lý đồng nhất và bước nhảy tịch liêu vào cõi tịch mịch của một đóa hoa hồng tơi tả…”******

Rồi một lần kia, nhà thơ cô đơn, tha thẩn dạo chơi những ngày cận kề cuối năm ở tận góc bể chân trời ven bãi biển Laguna Beach xa xăm bỗng nhập thần mộng thấy đại thi hào Nguyễn Du và Thúy Kiều hiện về thấp thoáng vi vu :

Năm tàn nằm mớ Nguyễn Du

Kiều trôi đâu mất la phù dặm khơi

Cuốc kêu bảng lảng tháp hời

Nhắc tên người cũ rã rời cuối năm

Trầm tư bên một góc quán cà phê ở Glebe, trên vùng đồi cao Earlwood, nhìn xuống dòng sông xanh, gần thành phố Sydney ở tận bên kia bờ Úc Châu, thi nhân chợt nghe ra tiếng ngựa hí, tiếng đàn vô thanh của Mã Minh và thấy Long Thọ lang thang dưới ánh trăng thái cổ ảo huyền :

Con ngựa ô lồng lộn Mã Minh gãy đàn

Long Thọ thở dài nhật nguyệt lang thang

Rồi lại một chiều phiêu bồng lãng bạt, rong rêu cùng họa sĩ Vĩnh Ấn bên dòng sông Seine bồng bềnh, rực ngời hoa nắng ở thành phố Paris, thi sĩ bỗng thấy Van Gogh nhập cốt ứng hiện huyền hòa :

Úm tô rô Van Gogh hiện ra

Úm ba la u linh ma ha

Đất nứt nở ra bầy quạ trắng

Hồn thiêng Van Gogh nhập vào ta

Úm tô ra hương linh hiện ra

Úm ba la ưu ưu Bát Nhã

Đất nứt nở ra đôi vạc trắng

Hồn thiêng Van Gogh nhập đêm qua

Van Gogh là một họa sĩ dị thường, có một câu nói bất hủ : “Trong cuộc đời và trong cả hội họa cũng vậy, rất có thể mi bỏ qua không cần Thượng đế, nhưng mi, kẻ khổ đau, mi không thể bỏ qua, không cần tới một điều cao viễn hơn mi, chính là đời mi : Quyền năng sáng tạo.” Vâng, sáng tạo là một nghệ thuật tối thượng, là bước đi tuyệt cùng tự giải phóng, tự giải thoát bản thân khỏi nhà tù do chính mình tự tạo cho mình, như văn hào xuất chúng Henry Miller cũng đã từng tuyên bố : “Kẻ sáng tạo kêu gọi con người trực nhận rằng, tất cả mọi tự do có sẵn trong bản thân rồi. Rằng con người không cần phải bận tâm lo lắng đến vận mệnh thế giới ( vì đó không phải là vấn đề của hắn ) mà chỉ nên lo giải quyết vấn đề riêng tư của chính riêng mình, tức là vấn đề giải phóng, giải thoát, chứ không phải vấn đề nào khác cả.”

Henry Miller lấy giải thoát làm đề tài tối thượng và Phạm Công Thiện cũng tương ứng trên tinh thần giải thoát giải phóng ấy, cho nên liền quảy túi thơ bầu rượu, xuôi ngược bước đi nhảy múa trên thông lộ phong quang sáng tạo vô lường. Tường tận thấy rõ cái thực tại ở đây bây giờ, thở cùng linh khí của nhật nguyệt thiên thu, tái tạo từng điệu thở, từng ý niệm, nổ tung mọi cố chấp thâm căn cố đế để thể nhập Tánh Không, xô cửa huyền vi mà bước vào Tâm giới, nơi tuyệt cùng của vạn vật Nhất Như. Bước tự do tự tại, thênh thang giải thoát mọi dính mắc, buộc ràng, chỉ còn sáng tạo và sáng tạo bao la, dốc hết tinh hoa, tinh túy để tựu thành những tác phẩm độc đáo trầm tư : Từ Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất đến Khơi mạch nguồn thơ thi sĩ Seamus Heaney, từ Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử đến Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, từ Đối mặt với một ngàn năm cô đơn của Nietzsche đến Chỉ còn tiếng thơ trên mặt đất, từ Triết lý Việt Nam về sự vượt biên đến Khai ngôn cho một câu hỏi dễ hiểu : Triết học là gì ?từ Nét đẹp tinh túy trong sáng của đạo lý Phật giáo đến Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ tát sáng rực khắp bốn phương, từ Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng đến Trên tất cả đỉnh cao là lặng im…là những bước nhảy thượng đẳng, tuyệt luân, hùng tráng, phi thường, vượt qua sự chuyển hóa toàn diện của tâm thức đến độ vô sư tự ngộ, bùng vỡ ra một điều chi bất khả tư nghì giữa như thị đang là ngay ở đây thôi :

Những gì không vói tới

Thì có sẵn đó rồi

Bao nhiêu danh vọng hời

Vài ba cụm bèo trôi

Ba mươi năm nằm dài

Một hôm đứng phắt dậy

Bất nhị xòe tầm tay

Bất ngờ tôi sụp lạy

Từ trống trải nhận thấy

Tự trống trải lắng nghe

Tịch diệt liền tại đây

Xuân dậy giữa trưa hè

Xuân là Nguyên xuân, Tâm xuân, là mùa xuân miên viễn trong lòng người, thi sĩ đã thấy và nghe được như một phép nhiệm mầu làm biến tan mọi niềm đau nỗi khổ,mọi phiền não lao đao :

Hôm nay là hôm nào

Thôi đừng hỏi tại sao

Phép lạ đập vào cửa

Bông súng nở trắng phau

Ngồi im giữa vòng tròn

Thở nhẹ như chim non

Mộng thân trùm pháp giới

Bông quỳnh vừa nở trọn

Lắng vào trong cái nghe

Rót vào lòng thật khẽ

Lọt vào trong lặng lẽ

Động tịnh đều dứt nhẹ

Hôm qua vẫn trở lại

Dĩ vãng là hôm nay

Ngày mai là hiện tại

Hiện tại chết mỗi giây

Đấy là những bài thơ ngắn gọn, tuy đơn sơ giản dị nhưng đi thẳng vào lòng người một cách tự nhiên, thể hiện cốt cách đặc thù riêng biệt, hàm dung ý thiền “một là tất cả, tất cả là một” của tinh thần Hoa Nghiêm. Tất cả ý thức và vô thức của con người bị phá vỡ tung ra, xoay tròn trôn ốc mất hút trong trùng trùng duyên khởi của toàn thể sự sự vô ngại pháp giới. Một giây phút kéo dài cả triệu kiếp, một bước đi là nghìn tỷ dặm, một cái nhìn là thiên thu bừng dậy, nói như Phạm Công Thiện : “Nếu chúng ta xoay chuyển cái nhìn của chúng ta vào trái tim vũ trụ theo nhịp thở kinh Hoa Nghiêm thì tất cả mọi sự đều dung thông, dung nhiếp, viên dung tự tại vô ngại, thời gian là không gian, một thời gian là tất cả không gian, một không gian là tất cả không gian, tất cả thời gian là một không gian, tất cả không gian là một thời gian.”*****

Khi tiềm ẩn nguyên khí, nội lực thâm hậu thì bậc cao thủ cự phách thường kiệm lời, ít nói mà linh hoạt, tùy hứng như trẻ thơ, hồn nhiên đùa rỡn, xem cuộc đời như một trò chơi. Còn kẻ thi sĩ xuất chúng, sáng tạo vô vàn cảnh giới thi ca quá mộng thì ít nhất cũng sờ đụng tới hố thẳm và đỉnh cao tâm linh của chính mình.

Đỉnh cao và hố thẳm tâm linh ấy, Phạm Công Thiện đã từng va chạm, giáp mặt trong một bình sinh hy hữu nào đó, cho nên cả trời thơ đất mộng dạt dào bao nhựa sống thâm trầm nhập vào trong từng điệu thở tinh khôi :

Lùa nhẹ vào một mối

Đập mạnh một nhát thôi

Tất cả đều bày phơi

Trí tuệ sáng rực ngời

Muốn có được ánh sáng quang minh trí tuệ rực ngời đó thì chẳng phải chạy tìm đâu xa mà chính ngay nơi tận đáy lòng mình, chính nơi mình đang cư ngụ, lưu trú, ngay nơi những nghịch cảnh, thử thách mà mình phải giáp mặt ngày đêm một cách anh dũng, không nao núng, như nhà thơ từng nhắc nhở : “Chúng ta chỉ thành Phật được, khi chúng ta là con người ở giữa thị tứ, không có cảnh Bồng lai thiên thai địa đàng nào là thuận cảnh để ta giải thoát được, chinh tất cả Nghịch cảnh của nơi ta sinh sống mới là nơi ta tự chuyển hóa tâm thức để nhập vào Tự chứng Thánh trí.”***** Nghịch cảnh là môi trường sống, hoàn cảnh sống của mình thường bị nhiều chướng duyên đối nghịch nhưng cũng chính từ những nghịch cảnh đó mà mình chịu đựng, kiên nhẫn vượt qua, biết chuyển hóa nó thì liễu ngộ. Thánh trí đó là trí tuệ, tuệ giác, là cái bản tâm nguyên sơ thanh tịnh của mình đấy thôi. Khi thấy rõ tận tường được điều đó thì xem mọi sự ở đời như sống chết, đến đi, hơn thua, đúng sai, phải trái, giàu nghèo, thành công, thất bại,… đều là nhân duyên giả hợp, chẳng hề sợ hãi, lo âu chuyện còn hay mất :

Thất bại giữa đời này

Chết sáng ngời trên cao

Bông tàn phai cõi đất

Mọc lại giữa trăng sao

Nhảy thẳng vào sự việc

Chẳng có gì đáng tiếc

Sự việc lớn lao nhất

Là hiện tiền tịch diệt

Thực tại hiện tiền là ngay đây bây giờ, ngay trong mỗi phút giây là chứa đầy thiên thu vĩnh cửu, ngay trong từng hơi thở ra vào là đủ cả nghìn năm :

Bôn ba ngoài vạn dặm

Cũng chỉ một trăng rằm

Bao nhiêu là hố thẳm

Xoáy về nốt ruồi đậm

Hố thẳm là ẩn ngữ chỉ cho tư tưởng của chúng ta. Chỉ cần một chút tơ tưởng móng lên thôi là cả ba nghìn thế giới, sơn hà đại địa hay tiên nữ, thục nữ mười phương liền hiển lộ, bừng dậy huy hoàng, rõ ràng hiện ngay trước mắt tức thì :

Chỉ cần một ý tưởng

Khắp vũ trụ mười phương

Sáng bừng lên vô lượng

Thiên tiên hiện đầu giường

Phải chăng đó là cái thấy tuệ giác siêu việt của một tâm hồn bao la thông suốt lẽ sâu xa của trùng trùng duyên khởi Hoa Nghiêm pháp giới diệu kỳ :

Mỗi bước chân ra đi

Triệu vũ trụ thiên di

Mỗi chỗ tôi ngồi lại

Sáng bừng lên diệu lý

Chân lý vi diệu đó, thi nhân bỗng phát hiện chẳng ở đâu xa mà ngay tại đây và bây giờ, ngay giữa phù du cát bụi giữa vui buồn sướng khổ trong cõi lòng huyền diệu của thức tâm :

Trăm năm đời hờ hững

Đêm ngày buồn lơ lửng

Linh địa là tại đây

Nơi chỗ tôi đang đứng

Linh địa là mặt đất thiêng liêng này, nơi thi sĩ đang sống từng phút từng giây đầy trọn vẹn. Sống từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên sương mù Đà Lạt, từ Mỹ Tho, Sài Gòn, Nha Trang đến Paris, Los Angeles, Chicago, từ Monterey Park, Garden Grove, Long Beach đến New York, Bellflower, Washington, từ San Gabriel, Alhambra, Houston đến Sydney, Earlwood, Glebe… ngút ngàn viễn xứ xa xôi :

Thoắt đi một đời người

Buồn hoài cũng thế thôi

Trăm năm là giây phút

Chưa đi đã tới rồi

Hàng triệu tỷ năm trôi qua và giờ đây ngưng đọng trong cái đang là, nơi người em thi ca từ vô lượng kiếp trở về đang mỉm cười nguyên sơ rạng ngời mới lạ :

Mười lăm tỷ năm qua

Từ vạn triệu thiên hà

Bây giờ ta mới tới

Gặp lại em hôm qua

Cuộc trùng phùng kỳ ngộ thật vô cùng thú vị, tuyệt hảo tân kỳ như một kẻ đốn ngộ vô ngôn vì thấy toàn thể vũ trụ là chốn đạo tràng đầy đủ chư Phật, Bồ tát, Thần linh đều viên dung cùng một ngọn ngành thanh tịnh :

Tất cả là đạo tràng thần linh

Ta ngồi tham ngưỡng cội vô hình

Thênh thang phù thế làm chim ó

Bay lượn tháng ngày cõi lặng thinh

Bay lượn giữa phong quang trời đất, nhật nguyệt hay thả trôi trên dòng sông Mật tông thấm đẫm tình Mẹ Đại bi, Đại trí Tãra xanh biếc huyền mộng chan hòa. Cả vũ trụ mênh mông là một tu viện rồi thì về chùa hay xa chùa cũng trong vòng tay bao dung mở rộng :

Tãra mười tiếng đại không

Ảo thân nằm giữa dòng sông Mật thừa

Về chùa một dúm muối dưa

Xa chùa cũng thế : Hứng mưa mỉm cười

Hầu như suốt cuộc đời Phạm Công Thiện thường gắn bó, thân mật, cận kề với những ngôi chùa ở quê hương cũng như các ngôi chùa nằm dọc ven đường lang bạt trên toàn thế giới, chàng ở chùa nhiều hơn là ở nhà. Từ chùa Hải Đức ở Nha Trang đến chùa Vạn Hạnh ở Sài Gòn, từ chùa Việt Nam ở Los Angeles đến chùa Viên Thông ở Bellflower, từ chùa Diệu Pháp ở Monterey Park đến chùa Liên Hoa ở Garden Grove…Cửa chùa là cửa Không, Không là Không Tánh nên tha hồ vào ra thoải mái, chẳng hề chướng ngại gì cả. Cho nên từ Bát Nhã đến Pháp Hoa, từ Kim Cang đến Hoa Nghiêm, từ Mật tông đến Thiền tông, từ thi sĩ đến thiền sư, Phạm Công Thiện lại tùy duyên cất cao giọng sư tử hống trong các pháp đường, thiền viện ở Mỹ Châu và Úc Châu.

Mặc dù, mới buổi sáng giảng kinh Kim Cang thao thao bất tuyệt trên thiền đường, rồi buổi chiều thõng tay vào chợ uống rượu ngâm thơ túy lúy cùng bọn văn nghệ sĩ, giang hồ tứ chiếng đó đây mà phong thái vẫn nhàn nhã, tự tại, tiêu dao. Mỉm cười buông bỏ nhẹ nhàng để bước đi trầm hùng sư tử, tự do vô sự. Vô sự như chim hải hồ bay trắng tháng ngày bay khắp thiên thanh vĩnh thúy rồi đậu xuống mái hiên chùa rêu phong tịch mịch, ngồi nhập định du hý tam muội làm thơ kính tặng cõi thinh không lồng lộng :

Mồng tơi mây ngủ hiên chùa

Dâm bụt rực đỏ hai mùa gặp nhau

Hơi rừng thơm nức chiêm bao

Đêm thâu nín thở ngó vào bài thơ

Toàn thể cuộc đời là bài thơ, sống chết là bài thơ, có không là bài thơ, mộng thực là bài thơ, buồn vui, sướng khổ là bài thơ, hơn thua, được mất là bài thơ, thành công, thất bại là bài thơ, gặp gỡ, ly biệt là bài thơ, phiền não, an lạc là bài thơ, khổ đau, hạnh phúc là bài thơ, chiêm bao mộng mị là bài thơ hay Vô thượng chánh đẳng, chánh giác cũng đều là thơ thơ hết thảy, thơ ở trong thơ :

Tượng Phật ở bàn thờ

Dọn dẹp để trống trơ

Tôi vẫn lạy chỗ trống

Chỗ trống thành bài thơ

Chính cuộc đời của Phạm Công Thiện là một bài thơ quá tuyệt vời bát ngát, quá tuyệt mỹ lý thú, quá tràn trề mê say, ngợp đầy hào sảng rạt rào vô hạn, đã khơi dậy nguồn cảm hứng dồi dào, thắp lên ngọn lửa thiêng huy hoàng sáng tạo, bừng cháy bất tận giữa lòng nhân thế tuyệt trần :

Hứng lúc nào cũng đến

Giờ nào cũng giờ hên

Ngồi thẳng lưng mà viết

Vạn tơ tưởng bồng bềnh

Viết là sống. Sống một lần Tự do đầu tiên và cuối cùng như Krishnamurti hay sống Alexis Zorba Con người chịu chơi như Nikos Kazantzakis hoặc sống Chơi giữa mùa trăng như Hàn Mặc Tử : “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt sự sống.”Thể điệu sống ấy, thật giống hệt với thi sĩ Phạm Công Thiện xiết bao !

Thật vậy, chẳng những giống như Hàn Mặc Tử về phong cách nhập cuộc tha thiết, kiệt tận bình sinh, dốc hết toàn thể xương xảu máu me vào ly rượu tình yêu nồng say óng ả mà Phạm Công Thiện còn tương ứng, tương tợ với nhà thơ lãng tử Rimbaud từng trải qua Một mùa địa ngục bi tráng, bi hùng, với đại thi hào Walt Whitman, chỉ một Lá cỏ cũng đủ chứa đựng cả vô tận đất trời, với Suzuki Thiền luận, với Padmasambhava Tổ sư Mật tông Tây Tạng, với Milarepa Con người siêu việt, với Long Thọ Trung quán luận, với Heidegger Về thể tính của Chân lý, với Nietzsche, Zarathustra đã nói như thế trên ngõ về vĩnh cửu, với thi hào Hoelderlin lên đường Quy hồi cố hương, với Apollinaire, một thi nhân trầm lặng mặn nồng, sống trọn vẹn hết mình với tình yêu và nhất là với Henry Miller, một tâm hồn thượng đẳng mà Phạm Công Thiện luôn luôn kính phục và ca tụng hết lời : “Đối với tôi, Henry Miller còn vĩ đại hơn cả Walt Whitman, hơn cả Dante, Shakespeare và Goethe. Vĩ đại một cách bí mật, một cách thần diệu và vượt ra ngoài cả văn minh, văn hóa và văn chương của toàn thể nhân loại, vượt ra ngoài Thiện và Ác, Đạo và Phi Đạo.

Đứng trên đảnh núi cao nhất của nhân loại, Henry Miller cùng cười to tiếng với Duy Ma Cật, với Milarepa, với tất cả những gì chưa bao giờ xuất hiện trên toàn thể không gian, thời gian của cái gọi là Thực Tại và của cái gọi là Hư Vô.

Tương lai của toàn thể nhân loại phải bắt đầu lại với Henty Miller thì mới may ra chuyển hóa toàn diện trái đất này thành viên ngọc mani ( như ý ) trong trẻo của Quán Thế Âm Bồ Tát. Henry Miller là một trong vài ba thiên tài nhân loại đã đánh thức dậy thế lực mãnh liệt nhất của Lòng Đại Bi trong ý thức và vô thức của con người trên mặt đất…

Đọc Henry Miller là nghe lại tiếng nói của Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Vệ Đà, Kinh Bát Nhã, Kinh Kim Cang, Kinh Hoa Nghiêm, tắm mình trong không khí u trầm của Đạo Đức Kinh, đùa hát trong tiết điệu của Nam Hoa Kinh, ca ngợi mặt trời trong Kinh Ai Cập, thờ lạy buổi chiều trong Kinh Á Rập và Do Thái, nhảy múa với cái chết trong Kinh Tây Tạng, làm ái tình trong Kinh Mật tông, say rượu ngọt trong Kinh Hy Lạp…Tất cả đều là Kinh, tất cả đều là Đạo, tất cả đều là cầu nguyện, tất cả đều là hơi thở của vũ trụ, tất cả đều là linh thiêng và đều huyền dị. Tất cả đều im lặng, sự im lặng trong khiết, thoát ra từ hố thẳm vạn đại.”**

Lần đầu tiên qua Hoa Kỳ lúc mới 24 tuổi, một người duy nhất mà Phạm Công Thiện muốn gặp là Henry Miller và chàng đã toại nguyện. Henry Miller nói chàng là hậu thân của thi sĩ Rimbaud, khiến chàng hốt nhiên đốn ngộ, bùng vỡ ra một điều gì ly kỳ vi diệu cực cùng và từ đó, chàng sống trên cung bậc xuất thần liên tục hân hoan với cái đang là.

Đang là thì “không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu” dù cuộc lữ bắt đầu khởi sự từ vô lượng kiếp rồi, dù có đi vòng quanh hết quả địa cầu này thì cũng đẻ thấy lại cái tâm hồn mình, như Henry Miller nói : “Vì chỉ có một cuộc phiêu lưu vĩ đại thôi, đó là đi vào bên trong mình và đi vào trong lòng mình thì thời gian, không gian, ngay đến hành động cũng không quan trọng gì cả.” Thì ra là vậy, thật đơn giản mà độc đáo vô cùng.

Cuộc đời Phạm Công Thiện nhiều huyền thoại ly kỳ ngoạn mục, chúng ta hãy nghe chính Phạm Công Thiện tự giới thiệu về mình lúc 25 tuổi trong tập thơ Ngày sinh của rắn, An Tiêm xuất bản 1966 : “Sinh vào năm rắn bên dòng sông Cửu Long. Vì tranh luận học vấn với giáo sư nên bỏ học trường lúc 13 tuổi. Viết sách lúc 14 tuổi, làm giáo sư sinh ngữ từ lúc 16 tuổi đến 20 tuổi tại những trường ở Sài Gòn, Mỹ Tho, Đà Lạt, Nha Trang.

Quyển sách khảo luận đầu tiên được xuất bản vào lúc 16 tuổi. Viết quyển Ý thức mới trong văn nghệ và triết học lúc 20 tuổi. Học triết lý tại trường đại học Yale để trình tiểu luận Ý niệm về chân lý trong tư tưởng Platon và Heidegger tại hội thảo triết lý ở Yale. Tiếp tục học triết lý tại trường đại học Colombia. Khinh bỉ giáo sư và bỏ học bổng của Viện Giáo Dục Quốc Tế, bị viện mời đi gặp bác sĩ phân tâm học, được mời khéo vào nhà thương điên, lại tranh luận với bác sĩ phân tâm học về giá trị và giới hạn của phân tâm học hiện đại, chỉ trích đời sống nông cạn của Mỹ quốc.

Sống lang thang lay lất ở xóm nghệ sĩ Greenwich Village tại New York, đã gặp Henry Miller tại Pacific Palisades ở California, được Henry Miller nhận là Rimbaud tái sinh lại ở thế kỷ XX. Sau đó được một văn sĩ Do Thái cho tiền để trốn qua Paris, không giấy tờ không hành lý, sống bơ phờ ở Bretagne.

Học văn chương tại trường đại học Rennes, khinh bỉ giáo sư rồi lại bỏ đi và sống lang thang lay lất khắp hang cùng ngõ hẻm ở Paris, làm chochard, đi ăn mày, ngủ dưới gầm cầu ngủ trên vĩa hè, đói lạnh long đong và bỏ làm luận án tiến sĩ tại Pháp. Được Henry Miller gởi tiền nuôi sống và được Henry Miller cho tiền rời bỏ Paris để sống lang thang giang hồ tại Thụy Sĩ, Ý Đại Lợi, Ba Tư, Hy Lạp, Thái Lan vân vân…

Lúc ở Paris thì nhập bọn với nhóm nghệ sĩ trẻ ở Popoff la cà vất vưởng ở xóm Saint Séverin và Saint Germaindes Pres. Đã gặp Krishnamurti hai lần tại Square Rapp. Hiện đang sống chờ đợi điên và chờ đợi chết.

Triệt để đứng ngoài tất cả ý thức hệ chính trị, đứng ngoài mọi sự tranh chấp tôn giáo, khinh bỉ tất cả văn hóa nhân loại, thù ghét tất cả mọi tổ chức xã hội. Vô cùng kiêu hãnh, chỉ đi một mình và tự nhận là thiên tài độc nhất của Việt Nam.”

Cùng nòi giống, cùng dòng máu Henry Miller, lấy giải thoát làm đề tài tối thượng nên Phạm Công Thiện cũng nhiệt liệt, hiên ngang theo dõi cuộc phiêu lưu thám hiểm vào nội tâm thầm kín, để khai phá ra những bí mật bên trong thế giới tâm linh sâu thẳm của chính mình. Cuộc lữ tư duy khủng khiếp từ khi thi sĩ tự nguyện làm lạc đà gánh nặng, băng qua những sa mạc cát trắng khô hạn, cháy bỏng vết hằn cay đắng, thê lương, vượt qua ngàn cơn bão lốc khốc liệt, kinh hoàng của nỗi đời dâu bể tan hoang cũng như từng say đắm, say sưa chén rượu hồng nhan, túy lúy càn khôn bổi hổi, rồi dấn thân làm sư tử oai phong lẫm liệt, đi đứng một mình, không bè nhóm, không đảng phái, không ý thức hệ, chỉ gầm rống vang động, làm rung chuyển khắp sông hồ dữ dội, hùng tráng, uy nghi, khí phách giữa tồn sinh bức bách, xuống biển lên đồi.

Rồi bất ngờ đến kỳ lạ, sư tử biến thành thằng bé trẻ dại hài nhi với nụ cười tươi tắn niềm hân hoan thơ ngây, thấy gì cũng rực ngời mới lạ, bằng con mắt trong veo, trong trẻo trinh nguyên xanh biếc trời thơ đất mộng không tên, như thi sĩ William Blake :

Ta không có tên

Ta ra đời mới có hai ngày

Ta chẳng biết gọi mi bằng gì ?

Ta hân hoan

Hân Hoan là tên ta

Cầu cho hân hoan ngọt ngào ở mãi cùng mi

Niềm hân hoan xinh

Niềm hân hoan ngọt ngào mới được hai ngày

Niềm hân hoan ngọt ngào là tên ta đặt cho mi

Mi mỉm nụ cười

Khi ta ca hát

Cầu cho niềm hân hoan ngọt ngào ở mãi cùng mi

Trên cung bậc ngân vang ngút ngàn hân hoan sáng tạo đó, Phạm Công Thiện cùng tương ứng với triết gia Nietzsche về ba hóa thân : Lạc đà,. sư tử và hài nhi. Trước hết tinh thần trở thành lạc đà, chuyên chở gánh nặng văn hóa, truyền thống… tiêu biểu những giá trị lỗi thời xưa cũ. Sư tử là chúa tể rừng xanh, tượng trưng cho ý chí, trí tuệ siêu việt, mạnh mẽ phá hủy tất cả những triết thuyết độc thần, hư vô, duy vật lỗi thời đó, làm sụp đổ hết thảy mọi thần tượng do con người sợ hãi dựng lên và cuối cùng là hài nhi hồn nhiên, là biểu tượng cho sự bắt đầu, khởi nguyên hoàn toàn mới mẻ, là một tiếng cười rỗng rang, một tiếng ừ chấp nhận thiêng liêng.

Hài nhi xem mọi sự như trò chơi, trò đùa vui vẻ, chẳng có chi phải trầm trọng, nặng nề, chẳng có gì phải van xin, tôn thờ, sợ hãi. Hài nhi chỉ biết yêu thương múa hát, hân hoan sáng tạo và sáng tạo thênh thang.

Thênh thang ca hát như Trang Tử dạo khúc Tiêu dao du bên bờ sông Dương Tử hay như Milarepa hát ca những lời thơ siêu thoát Gởi lại trần gian trên tuyệt đỉnh Hy Mã Lạp Sơn lạnh rờn tuyết trắng, hay như Huyền Giác sảng khoái hân hoan Chứng đạo ca tuyệt trần bất hủ hoặc như Tuệ Trung Thượng Sỹ hý lộng Phóng cuồng ca quá đỗi ngân nga và Phạm Công Thiện cười vang lên như tiếng gầm sư tử trầm hùng tự tại thong dong :

Anh vụt cười to động đóa hồng

Dịu dàng em rắc giữa hương nồng

Anh ngồi chỗm dậy như sư tử

Vồ chụp bướm ngàn lúc rạng đông

Khi sư tử mà đùa rỡn, nhảy múa với chim ngàn hoa bướm là lúc mọi sự đã trở thành một trò chơi của hài nhi hý lộng, rất mực thuần nhiên thoải mái, thanh thản nhẹ nhàng như thi sĩ tâm sự khơi vơi về thái độ ứng xử giữa cuộc luân lưu sinh tồn linh động : “Sống, ăn ở đời một cách khiêm tốn, tầm thường, nhỏ thấp, cung cách, cử chỉ lặng lẽ từ tốn, nhún nhường, không tìm cách tỏ ra rằng mình là quan trọng đối với con mắt thế gian, nhưng đằng sau bề ngoài tầm thường đó thì hãy để tâm thức mình bay vút, vượt lên trên tất cả quyền lục và danh vọng thế gian…

Chấp nhận tất cả những gì xảy đến đời mình với sự dửng dưng bình thản, mặc kệ giàu hay nghèo, mặc kệ khen hay chê, không thị phi phân biệt cái này với cái kia như đức hạnh và đồi bại, vinh quang và nhục nhã, tốt và xấu. Không đau đớn khổ sở và cũng không ân hận những gì đã qua, không sung sướng hớn hở và cũng không hãnh diện về những gì mình đã thực hiện thành tựu.

Ngó nhìn những quan điểm xung đột và những phát hiện sinh hoạt đa dạng của chúng sinh với lòng bình thản, khinh an và tâm thức siêu thoát. Phải hiểu rằng đời là thế và là thể điệu tác động không thể tránh được của mỗi một sinh thể. Hiểu như thế thì hãy luôn tỉnh thức, thanh thản trầm lặng. Ngó nhìn nhẹ nhàng xuống cuộc đời như một người đứng trên tột đỉnh núi cao nhất, nhìn ngó xuống những thung lũng và những ngọn núi nhỏ thấp trải ra dưới chân mình.”*****

Giữa muôn trùng cuộc lữ, trên con đường mây trắng tự do, gió trăng đồng vọng, rung ngân lên văng vẳng những cung đàn lã lướt dưới gót chân của chàng thi sĩ dị thường. Bước đăng trình vạn lý du, có đôi lúc cũng dừng gót chân lãng tử lại nghỉ ngơi một vài quán trọ dọc đường như giảng dạy triết lý, văn chương ở đại học Toulouse, Pháp quốc hay thuyết trình Thiền tông, Mật tông ở các đại học, thiền viện trên khắp miền viễn xứ California Hoa Kỳ.

Tiến sĩ Nhật Bản Nohira Munehiro khi làm luận án tốt nghiệp tiến sĩ, lấy đề tài Ý thức mới Phạm Công Thiện, tư tưởng gia Việt Nam, cho biết các nhà học giả uyên thâm xứ hoa Anh Đào đều tôn vinh, ca tụng Phạm Công Thiện là Long Thọ của Việt Nam. Từ năm 1966, mới 25 tuổi, Phạm Công Thiện đã nói về Long Thọ : “Theo Trung quán luận, thì sự nô lệ, sự phiền muộn, đau khổ, chấp trước…chỉ là vọng tưởng.

Chúng ta bám chặt vào sự vật vào ý tưởng, vào con người vào hoàn cảnh, vào nguyên nhân vào kết quả, vào mục đích vào cứu cánh, vào phương tiện vào sống và chết : Chỉ vì vọng tưởng tạo ra những đặc tính và những hình ảnh mà chúng ta tưởng rằng có thực và bất di dịch…

Con người giải thoát làm việc thiện, cứu đời, độ thế, không phải để đạt đến kết quả nào ở đời này hay đời sau. Hành động của con người giải thoát là hành động không mục đích và không lý do. Lý tưởng Bồ tát thể hiện trong Đại bi là lòng thương không mục đích, vì còn mục đích là còn trói buộc vào nhân và quả. Trói buộc là nô lệ, là chấp nhân hoặc chấp quả, chấp ngã hoặc chấp pháp, chấp hữu hoặc chấp không. Hố thẳm chính là phá chấp và phá chấp triệt để…”*******

Tinh thần phá chấp triệt để ấy, thể hiện nhất quán qua toàn bộ tác phẩm Phạm Công Thiện từ thuở xa xưa cho đến bữa nay, nên các học giả Nhật Bản sánh Phạm Công Thiện với Long Thọ cũng là tương xứng, xác đáng. Đại văn hào Mỹ Henry Miller thì cho rằng, Phạm Công Thiện là hậu thân của Rimbaud, một thi sĩ tiên tri thấu thị của nước Pháp. Nhà thơ Giang Trần, nhà thơ Phan Tấn Hải bên Hoa Kỳ thì tôn vinh, tấn phong Phạm Công Thiện là bậc Bồ tát, còn riêng người viết bài này, đã từng hân hạnh được bắt tay, gặp mặt trò chuyện với Phạm Công Thiện ở Đại học Vạn Hạnh, vào một chiều mùa hạ năm 1969 thì vẫn xem Phạm Công Thiện là một Bồ tát nghệ sĩ đồng thời là một thi nhân, một thi sĩ với trọn vẹn ý nghĩa của danh từ.

Chính Phạm Công Thiện cũng thường mặc nhiên tự nhận mình chỉ là nhà thơ, một thi sĩ thuần túy mà thôi : “Ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của thi sĩ, ai muốn hiểu sao đó thì cứ hiểu… Thơ là linh hồn của tất cả âm nhạc, hình ảnh của thơ là vô hình đột chuyển thành ra hiện hình và hiện ảnh : Hiện hình và hiện ảnh của thơ chính là hiện cảnh linh động, hiện thực hơn tất cả những cảnh sắc và phong cảnh hiện tiền… Thơ không nói về bất cứ cái gì cả, như vậy mới là tất cả. Thơ chỉ là thơ và thơ tự nói về thơ từ trong thơ đến trong thơ, cả cao và thấp, cả trong và ngoài, ở trên và dưới mặt đất, tất cả chỉ là thơ.”

Vâng, tất cả chỉ là thơ, khi thấy muôn sự muôn việc trên cõi đời này chỉ là thơ và thơ thôi thì lúc ấy mới bừng sáng rực ngời lên chân thực nghĩa vô lượng vô biên của Diệu Tâm thâm diệu, của Nhất Chân pháp giới, trùng trùng duyên khởi Hoa Nghiêm, thấy tất cả mọi sự đều tốt đẹp và tốt đẹp. Vì thế, cho nên thi nhân vẫn tiếp tục hân hoan sáng tác, sáng tạo vô ngần bất tuyệt miên man :

Tháng ngày làm thơ chơi

Hồn bay thẳng ra khơi

Bạch phát ngút ngàn tới

Thu phong tắt nghẹn lời

Làm thơ lúc rửa chén

Nước chảy tuôn rỏn rẻn

Bột trắng sạch rêu đen

Bếp nhà rân tiếng én

Xin gọi đại là thơ

Làm lúc nào chẳng nhớ

Cho một cô gái nhỏ

Chưa từng gặp bao giờ

Muốn gì mà có ngay

Thì tai nạn vạ bay

Không thèm muốn gì nữa

Đời tràn ngập thơ hay

Khi thơ hay bay ngập tràn mặt đất trần gian, thì ngôn ngữ Việt Nam cũng bay về ngợp trời xanh bát ngát, làm trang nghiêm cho nụ cười thanh tịnh, quang minh tính thể. Thế là trên ngõ về im lặng, người thi sĩ kỳ tuyệt của chúng ta đã xuống tận hố thẳm cũng như đã lên tột đỉnh cao chất ngất của tâm linh và chợt bừng ngộ thấy ra toàn thể trò đời chỉ là một cuộc đại hòa điệu chơi tối thượng, một trận du hý tam muội lồng lộng, phiêu bồng. Sống là chơi, chết là chơi, yêu là chơi, thương là chơi, vui buồn, sướng khổ là chơi, có không, còn mất là chơi, hơn thua, phải trái là chơi, thành cộng, thất bại là chơi, chiêm bao, mộng mị là chơi, tỉnh thức, thực tế, thực tại là chơi, phiêu bạt giang hồ khắp thế giới là chơi, giảng dạy triết lý, thi ca, thiền học là chơi, biết nhiều ngôn ngữ ngoại quốc là chơi, thương yêu kiều nữ là chơi, làm đại đức, thiền sư Nguyên Tánh là chơi, làm hành giả Mật tông là chơi, làm văn nghệ sĩ là chơi, làm thơ làm thẩn cũng là chơi chơi hết thảy mà thôi. Ơi chao ! Một cuộc đại hòa điệu chơi trùng trùng vô thủy vô chung giữa mênh mông vô tận, bất khả tư nghì…Án ma ni bát di hồng. Án ma ni bát di hồng. Án ma ni bát di hồng… Sống là như thế để chơi. Chết là như vậy thấy rồi Như Như. Đến đi tùy thuận kể từ. Sát na thấu triệt thiên thu cỗi nguồn.

Cuộc đại hòa điệu chơi tới ngày 8. 3. 2011 tại Houston, Texas Hoa Kỳ, thi sĩ thong dong qua chơi bên miên không có đâu. Trước giờ phút Trên tất cả đỉnh cao là lặng im này, không gì hơn người viết xin đọc vài bài thơ tiễn biệt Phạm Công Thiện về chốn miền thiên thu vĩnh viễn :

THÊNH THANG PHẠM CÔNG THIỆN

Lãng tử phiêu bồng không chỗ trú

Không chốn dung thân giữa phong trần

Nên đi thỏa thích trời vô định

Đỉnh cao hố thẳm ngút phù vân

Dốc hủ Đông Tây tràn tư tưởng

Nghiêng bầu kim cổ ngập quang minh

Uống cạn ngàn năm bao tinh túy

Đại hòa điệu chơi với muôn tình

Tình thiên thu ấy đầy ứng hiện

Xuất thần nhập cốt rộn bừng say

Thắp lửa hồn thiêng ngời tỏa sáng

Bát ngát điều chi chợt hiển bày

Cười thênh thang quá đường không lộ

Tung hoành ngang dọc khắp năm châu

Bước chân nhẹ nhàng về im lặng

Mà nghe rung động cả địa cầu

BỒ TÁT NGHỆ SĨ

Ngày sinh của rắn chao ơi !

Mở ra cuộc lữ khắp Trời tháng tư

Những bước chân nhẹ nhàng… từ

Im lặng hố thẳm thiên thu cỗi nguồn

Ý thức bùng vỡ trào tuôn

Bay đi những cơn mưa phùn chứa chan

Hố thẳm tư tưởng ngút ngàn

Đi cho hết một đêm hoang vu… này

Cùng Henry Miller say

Với Rilke Nguyễn Du… đầy đủ ghê

Ý thức mới văn nghệ… về

Nghìn phương muôn cõi thấy nghe ruột rà

Nghe từ Bồ Đề Đạt Ma

Trên tất cả đỉnh cao là lặng im

Huyền ngôn diệu ngữ bao niềm

Chảy và cháy mãi rực tim lửa hồng

Tâm Nhiên

* Phạm Công Thiện. Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Tái bản lần thứ ba. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1966

** Phạm Công Thiện. Henry Miller. Phạm Hoàng xuất bản, Sài Gòn 1969

*** Phạm Công Thiện. Triết lý Việt Nam về sự vượt biên. Trần Thi xuất bản, Hoa Kỳ 1995

**** Lê Khắc Thanh Hoài. Chuyện một người đàn bà…năm con. Thời Đại xuất bản 2012

***** Phạm Công Thiện. Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng. Phương Đông xuất bản 2008

****** Phạm Công Thiện. Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất. Trần Thi xuất bản, Hoa Kỳ 1988

******* Phạm Công Thiện. Hố thẳm tư tưởng. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1966

Thơ Phạm Công Thiện ( chữ nghiêng ) trích trong các tác phẩm :

Ngày sinh của rắn. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1966

Trên tất cả đỉnh cao là lặng im. Văn Hóa Sài Gòn xuất bản 2009

Nguyễn Tuấn



One thought on “PHẠM CÔNG THIỆN KỲ TUYỆT MỘT THIÊN TÀI”


chata says:
Tháng Ba 2, 2014 at 10:24 chiều

Triết gia Phạm Công Thiện

http://www.youtube.com/watch?v=Th68X72PrAE

Nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, dịch giả, giáo sư, cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện vừa qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại Houston, Texas, thọ 71 tuổi, theo Cáo bạch ngày 9 tháng 3, 2011 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ cũng như sự xác nhận của gia đình.

Theo lời một thành viên gia đình nói với một thân hữu, ông Phạm Công Thiện dường như biết trước thời điểm “sẽ đi,” và trong ngày cuối cùng của cuộc đời, ông dặn gia đình “không làm tang lễ rườm rà, chỉ hỏa thiêu.”

Chiều cùng ngày, vẫn theo lời gia đình, ông thấy “mệt dần, bắt đầu nhập định, và ra đi nhẹ nhàng.”

Ông tên thật là Phạm Công Thiện, thời trẻ còn có bút hiệu Hoàng Thu Uyên cho các tác phẩm dịch, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh Ngữ Tinh Âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Từ những năm cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn.

Ðầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc “khủng hoảng tinh thần.” Tại đây ông quy y ở chùa Hải Ðức, lấy pháp danh Nguyên Tánh. Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.

Từ năm 1966-1968, ông là giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Ðại Học Vạn Hạnh. Từ năm 1968-1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Ðức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông trút áo cà sa để lấy vợ và sau đó làm giáo sư Triết học Tây phương của viện Ðại Học Toulouse.

Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, giữ chức giáo sư viện Phật Giáo College of Buddhist Studies. Từ khoảng năm 2005, ông sang cư ngụ tại Houston, tiểu bang Texas cho đến ngày ông qua đời.

Giữa thập niên 1960, Giáo Sư Phạm Công Thiện bắt đầu nổi tiếng với các tác phẩm xuất bản tại Sài Gòn, mà cuốn đầu tiên gây chú ý nhiều cho giới văn nghệ và thanh niên sinh viên là Ý Thức Mới Trong Văn nghệ và Triết Học (1965), rồi đến Yên Lặng Hố Thẳm (1967), Hố Thẳm Của Tư Tưởng (1967), Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực (1967). Về tôn giáo có “Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, Tổ sư Thiền Tông” (1964), thơ thì có “Ngày sinh của rắn” (1967), các tác phẩm văn học thiên về tư tưởng: “Trời tháng Tư” (1966), “Bay đi những cơn mưa phùn” (1970). Tất cả các tác phẩm này đều do hai nhà An Tiêm và Lá Bối tại Sài Gòn ấn hành.

Tại hải ngoại ông đã xuất bản khoảng mười tác phẩm, hầu hết trong thập niên 1990, như Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất (1988), Sự Chuyển Ðộng Toàn Diện Của Tâm Thức Trong Tư Tưởng Phật Giáo (1994), Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên (1995), Tinh Túy Trong Sáng Của Ðạo Lý Phật Giáo (1998), v.v…Ông cũng đóng góp nhiều cho báo chí, chẳng hạn viết cho tạp chí Thế Kỷ 21, nhật báo Người Việt. Có thể nói, tác phẩm cuối cùng của ông là bài viết cho Giai Phẩm Xuân Người Việt 2011.

Từ khi còn rất trẻ cho đến cuối đời, Phạm Công Thiện đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa Việt Nam về các phương diện ngôn ngữ, thơ, văn và đặc biệt về tư tưởng triết học. Ðối với Phật Giáo ông cũng là người có công lớn với các công trình nghiên cứu Phật học, và đặc biệt, đã góp nhiều công sức xây dựng viện Ðại Học Phật Giáo Việt Nam đầu tiên Vạn Hạnh tại Sài Gòn từ năm 1966, trong đó có tập san Tư Tưởng là cơ quan phát huy tư tưởng Phật Giáo quan trọng nhất của Việt Nam trong thời cận đại.


http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A ... %E1%BB%87n



.
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 11 Tháng 4 2014

.

Hình ảnh


“CÁI GIỌNG SÀI-GÒN”



Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong đầu lúc nào cũng có một ý định là sẽ “thở đều” trên mảnh đất ồn ào này, ý định đó chắc sẽ giữ mãi cho đến lúc một ngày nào đó âm thầm không bứt rứt cắn tay áo mà mỉm cười he he he XXX xuống dưới ấy…

Gọi là yêu Sài Gòn thì có phần hơi quá! Không dám gọi thứ tình cảm dành cho Sài Gòn là tình yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái tình với Sài Gòn là cái tình của một thằng ăn ở với Sài Gòn hơn 20 năm, cái tình của một thằng mà với nó, Sài Gòn còn quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài Gòn, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi…

Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong

Chuyện con gái Sài Gòn “mỏ” có cong không thì hông biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái dẫu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ “hônggg…” khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, lấy gương ra soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.
Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy…

Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam , có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến cái giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này.

Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!”

Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy.

Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn.. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm “v” như “về, vui, vườn, võng” nó cảm giác sao sao á, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào…
Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là người Hoa, và một số người tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa, làm ăn, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.

Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì…” là mượn, những từ như “xà quầng, mình ên…” là của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.

Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi…cười vì chưa đoán ra được ý. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ làm sao.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.)
Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”

Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó…tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì “Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” – còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tùy vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.
Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = ổng
Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ


Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng… ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…
Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành “Hai ơi Hai, em nói nghe nè…” và “Gì dzạ Út ?”…Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì “Hai ơi Hai…em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi…rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể “anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba…” một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi…lâu.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc biệt của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.
Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Hải Phan



Hình ảnh




http://motthegioi.vn/ireport/chuyen-cai ... 39966.html

.
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009

Re: Hào Kiệt Miền Nam

UNREAD_POSTgửi bởi Xuan Phuong » 28 Tháng 11 2016


Người Sài Gòn xưa giàu cũng không phách

LÊ VĂN NGHĨA


Cũng như tôi, nhiều người bạn có một thắc mắc rất là thắc mắc: Rất nhiều bài viết về cảnh cũ nhưng người xưa Sài Gòn thì thấy hiếm có bài báo nào đề cập. Quả đúng thật.


Bởi vì cảnh trí có thể thay đổi nhưng những nhà khảo cổ, nghiên cứu có thể tìm lại, phục dựng lại được qua hình ảnh, hiện vật, tư liệu. Nhưng lối sống, tính cách con người thì có cách chi mà diễn tả lại được. Cũng phải tìm trong sách báo mà thôi.

Nhưng trong những bài viết của tác giả người Sài Gòn khi nói về tính cách của người Sài Gòn xưa có làm mấy ai tin được. Sự hoài nghi này cũng hết sức khoa học. Vả lại hình như cái gì quen quá cũng chẳng ai muốn viết. Báo chí muốn ăn khách thì phải lạ, có thông tin. Thời nay trong lúc tẩn mẩn, tò mò “tầm chương trích cú” tôi lại tìm được bài của nhà văn Nguyễn Ngu Í phỏng vấn cụ Á Nam Trần Tuấn Khải - một nhà văn, nhà giáo vốn dòng Nho học.

Cụ Á Nam sinh năm 1895 tại Nam Định và vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1955. Bài phỏng vấn này được trích trong quyển Sống và Viết của Nguyễn Ngu Í (trang 77, in năm 1966 tại Sài Gòn). Xin được trích nguyên đoạn cụ Á Nam có nhận xét về tính cách người Sài Gòn để bạn đọc tham khảo.

















Nhà văn, nhà giáo Á Nam Trần Tuấn Khải\







Nguyễn Ngu Í hỏi: Dường như lúc thiếu thời, cụ đã từng vào Nam?

Cụ (Á Nam Trần Tuấn Khải) gật đầu:

"Tôi không nhớ rõ năm. Khoảng tôi trên 30 tuổi thì phải, tức là lối 28-29 gì đó''..

Hẳn cụ còn giữ ít kỷ niệm sau lần đầu tiên tiếp xúc với người và cảnh miền Nam?

"Cảnh thì tôi quên mất. Còn người thì còn nhớ một kỷ niệm mà riêng tôi, tôi cho là rất thú. Một hôm nọ, tôi ghé thăm một người đồng hương, bán đồ cẩn xà cừ bên hông chợ Sài Gòn, đường Sabourain, bây giờ là đường Tạ Thu Thâu. Đang hàn huyên thì có một ông khách vào, hỏi giá một món đồ. Người Nam, mặc bà ba trắng, đi guốc vông. Dân thợ không ra dân thợ; dân thầy không ra dân thầy. Tôi tưởng ông ta là một khách qua đường, rỗi rãi, hỏi chơi để giết thời giờ, chớ cái bộ vó ông ta thế, tiền đâu mà mua nổi món đồ bạc ngàn.

Ông ta xin bớt hai trăm. Chủ hiệu bằng lòng bớt một trăm. Tôi tưởng ông ta sẽ bỏ đi, qua cửa hàng khác, nào ngờ ông ta ưng thuận, móc bóp ra, lấy chín trăm đồng trả. Hai ông biết chín trăm đồng hồi 40 năm về trước là cái gia tài nhỏ. Khi ông ta mở bóp, tôi nhìn thấy bạc giấy lớn còn nhiều. Người nhà hàng bao, cột món đồ xong, ông ta ra cửa, ngoắc một người tài xế Tây vội vã đến, ôm món đồ vừa mua để lên một chiếc xe nhà sang trọng. Ông ta vui vẻ bắt tay người chủ hiệu, lên xe.

Thấy tôi ngạc nhiên ra mặt, ông bạn tôi cười:

“Người trong này, họ như vậy đó, bác. Một nhà giàu có hạng ở đây mà đi phố, họ ăn mặc giản dị như thế đó. Lúc mới vào, tôi cũng thường đánh giá họ lầm như bác”.

Tôi như được mở mắt ra và cảm thấy thương thương cái đất “Nam… Kỳ” này: Nơi đây, người ta sống hồn nhiên, ít bị lễ nghi, tập quán ràng buộc như ở Bắc, ở Trung”.

Và cụ tiếp sau một ngụm rượu:

"À còn điều này nữa. Một chiều thứ Bảy, tôi được thấy cảnh thầy thông, thầy phán, anh em thợ máy, anh em phu xe ngồi quây quần trong các quán ăn ở trong chợ Bến Thành cùng nhau bàn chuyện phiếm, chuyện đời hay chuyện thời sự một cách tự nhiên, thẳng thắn. Bầu không khí cởi mở giữa những hạng người khác nhau ấy làm tôi càng thích lối sống trong Nam.“

Vì thế mà nay về già (lúc này cụ Á Nam được 70 tuổi - tác giả chú thích) cụ được toại nguyện” - người bạn khoa học, cũng là người Bắc, vừa cười vừa nói. Rồi anh tiếp, sau mấy giây nghĩ ngợi:

“Tôi cũng thích lối sống hồn nhiên của đồng bào trong này. Nhưng ta phải nhận rằng nay có khác xưa. Cũng đã có ít phần kiểu cách, trọng cái bề ngoài”.

Anh đưa ly lên môi, giọng nửa đùa, nửa thật:

“Kết quả của sự di cư gần triệu đồng bào miền Bắc chúng ta đấy”.



LÊ VĂN NGHĨA

onggiaun@yahoo.com
Xuân-Phương
Xuan Phuong
Thành viên VIP
Thành viên VIP
 
Bài viết: 1303
Ngày tham gia: 18 Tháng 1 2009


Quay về Hào kiệt miền Nam

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.

cron